SAN JOSE CÓ G̀ LẠ KHÔNG, EM?

 

  Có lẽ trong số dân trung niên, tầm tầm, rất ít người không biết đến câu: “Paris có ǵ lạ không, em?” Hồi ấy, nghe câu thơ này, tự dưng trong hồn thấy cơn lăng mạn dâng trào, con trai th́ phải làm ngay một ly cà phê cho đă, hoặc “rít” một hơi thuốc lá cho tới tận cuống, rồi bâng khuâng nhả khói chầm chậm, nhẹ nhàng để làn khói bay lảng vảng trong không một lúc rồi mới tan đi. C̣n con gái? Nho nhỏ th́  ôm lấy cuốn “Lưu bút ngày xanh” vào ḷng, mắt lơ đăng nh́n vào những tấm h́nh bạn bè và những ḍng chữ thân thương, để nhớ đến cánh bướm vàng khô ép trong cuốn vở trắng tinh, những lời gán ghép đỏ mặt,và những giây phút vui đùa rũ rượi bên nhau. Nhớn nhớn một chút th́ cắn môi, tay vân vê những sợi tóc dài buông thả trên bờ vai, nh́n qua cửa sổ, hướng về phía cánh cửa nhà của “chàng” cách đấy không xa, lắng nghe tiếng đàn ghi-ta chập chững của chàng mà tơ tưởng đến một thành phố diệu vợi bên trời Tây biền biệt kia, có ḍng sông Seine lờ lững uốn quanh phố thị như cánh tay của nàng Venus đa t́nh đang vươn ra, mời mọc.

   Nhưng rồi, thời gian qua, có dịp đến Paris, để thấy Paris chẳng có ǵ lạ cả! Y hệt như trong những tấm “carte postal” ngày xưa. Dù hai, ba chục năm trôi qua, Paris vẫn thế, vẫn nóc thánh đường cổ kính, vẫn tháp Eiffel xương xẩu, và những con đường chật hẹp chỉ đủ lọt một chiếc xe hơi và một chiếc xe đạp. Dân Paris đi làm, ăn mặc chững chạc, “complê, cravát”, nhưng tay lại cắp một ổ bánh ḿ dài tḥng không  nhân, cuộn trong một tờ giấy vàng ố. Đường xá nhiều xe, nhưng đa số là xe tàn và tắc xi, những anh tắc xi “chém” bạo hơn máy chém thời Robespiere, vừa bước lên xe đă thấy đồng hồ nhẩy vài đôla rồi; hỏi tài xế th́ cho biết đó là tiền “baga”, nghĩa là tiền chở đồ! Vào tiệm uống cà phê th́ coi chừng cà phê Paris làm loăng máu, v́ giá dành riêng cho du khách được tính đặc biệt, uống xong một ly th́ xây xẩm mặt mày, máu tan ra như nước. Nếu đói bụng mà muốn thưởng thức cơm Tầu, Paris đăi khách bằng loại hủ tiếu không thịt, chỉ toàn bánh và nước. Muốn có thịt, phải kêu riêng một tô thịt riêng, giá tương đương với tô bánh.  Paris chật hẹp, Paris không có nước xài thả giàn như ở Mỹ, dân Paris hai, ba ngày tắm một lần, nên nước hoa Paris bán đầy phố. Khách sạn Paris có hai loại: loại quyền quư, loại trung b́nh. Loại quyền quư th́ không dám bước chân vào, sợ khi trả buồng, bước ra th́ cụt cẳng. Loại trung b́nh th́ chán phè, buồng chật, thang máy hẹp, pḥng tắm bé tẻo tèo teo, nh́n khăn trải giường không dám nằm úp mặt xuống. Bởi vậy, Paris chẳng có ǵ lạ cả. Chắc thêm ba chục năm nữa, Paris vẫn là một vũ nữ về chiều, ngồi trên ghế đá, lắc lư đầu nh́n khách vội vă bước qua.

  Trong khi đó, th́ tại Tiểu Bang miền viễn Tây này, có một thành phố mà lúc nào lên chơi cũng thấy lạ: San Jose!

  Từ  Orange lên miền Bắc, xe vượt qua những con đèo ngoằn ngoèo, rồi tới một khoảng dài xa lộ mà chỉ có một “lane”, đi ban đêm, tim đập th́nh thịch, chỉ sợ vừa quẹo ra là thấy lù lù một chiếc xe tải khổng lồ đâm sầm tới. Và những khúc xa lộ chạy trong thành phố, những vườn nho lẩn giữa những trang trại kiểu xưa đột ngột biến hiện trong những ṭa nhà đang xây cất hiện đại. Rồi thung lũng hoa vàng từ từ hiện ra, rất sương khói, rất mờ nhạt, và rất lạ. Xa lộ cũng từng ấy “lane” mà h́nh như khác với xa lộ Orange, không diễn tả được. Cũng kẹt xe, cũng xe cộ nối đuôi nhau, nhưng một khi vào tới xa lộ San Jose rồi, th́ cảm giác lâng lâng sao đó, không c̣n cảm thấy sự căng thẳng của lái xe lâu giờ, không thấy “road rage” làm muốn chửi thề liên tục, không thích bấm c̣i dầu người bên cạnh lái ẩu, mà chỉ muốn tha thứ, muốn mỉm cười với người không quen. Sao vậy, nhỉ? San Jose có chi lạ mà mỗi lần lên, lại như trẻ hẳn ra? Quán ăn San Jose cũng bàn, cũng ghế, cũng phở, cũng bún ḅ Huế, cũng hủ tiếu, cơm tấm, nhưng h́nh như bà chủ San Jose dễ thương hơn, tươi mát hơn, nên thức ăn có vị đậm đà hơn.

  Quán cà phê San Jose buổi sáng vắng hoe, không ồn ào như Orange, nên thưởng thức một ly nong nóng vào lúc sương c̣n lảng vảng trong hồn, thấy như cà phê San Jose độc nhất vô nhị. Trong cà phê có pha sương, trong sữa đậu nành có chút gió, trong tô phở có nụ cười. Giá sống ở đây trắng nuốt như nàng sơn nữ Phà Ca, rau răm ở đây nhấp nháy như cặp mắt ai Quan Họ. Aên uống ở đây, t́nh tứ và lăng mạn hơn Paris  nhiều.

  Buổi tối, lái xe đi ṿng ṿng thành phố, thấy San Jose như cô thiếu nữ kiều diễm, nửa Tây Phương, nửa Châu Á, thay đổi mầu áo từng giờ, từng phút. Những quán sách, dĩ nhiên ít sách hơn ở Orange, nhưng lại cám dỗ vô cùng. Những chợ, những quán “to go”, dĩ nhiên nhỏ hơn Orange, nhưng lại đầm ấm hơn, thân thiết hơn, bước vào chỉ muốn mua một chút ǵ đó, rồi tần ngần bước ra, muốn để một chân lại trong cửa. H́nh như khí hậu ẩm ẩm, lành lạnh làm cho San Jose có một không khí lúc nào cũng lạ.

  Như thế, đến San Jose rồi là không muốn về, dù San Jose đất chật, người đông. Nhất là một hôm, San Jose tặng cho một kỷ niệm đẹp, măi măi không quên. Chiều Chủ Nhật ấy, San Jose mưa như mưa tháng Bẩy, người Orange đi lễ tại một ngôi nhà thờ cổ kính nằm giữa ḷng thành phố. Orange đậu xe lại, giương dù định bước ra, chợt thấy ngay bên cạnh, San Jose cũng vừa đậu xe, mà ngập ngừng nh́n lên trời, đếm những hột mưa ào ào rơi xuống như những sợi chỉ thủy tinh trắng trong. San Jose quên dù ở nhà mất rồi! Orange suy nghĩ trong một giây, rồi bước đến cạnh xe San Jose, gơ cửa nhè nhẹ, rồi lấy tay chỉ chỉ vào cây dù. Cặp mắt nai San Jose mở to, ngần ngại trong giây lát rồi khép nhẹ. Cánh tay nhẹ nhàng đưa xuống mở cửa. Cây dù của Orange nghiêng vào, che mái tóc, rồi che cho cả chiếc váy đen dài của San Jose. Từ ấy, dưới mái dù ấy, chân Orange và San Jose đi cạnh nhau, tránh vũng nước này, nhẩy lên viên gạch nọ, lách qua bụi cây, bước lên thềm giáo đường. Tới dưới mái hiên, dù gấp lại, và nghe rơ tiếng cây dù thở dài. Sao mưa không tạt vào ướt cả thánh đường để dù được giương lên măi? Dù bâng khuâng, và ráng mỉm miệng cười khi nghe tiếng “thanks” nhỏ nhẹ, ngân vang trong ḷng dù.

  Thánh lễ hôm ấy h́nh như dài hơn mọi hôm. Cha giảng h́nh như hơi nhiều, người ta chịu lễ hơi đông. Và rồi, chờ măi th́ cũng thấy lễ tất. Bước ra khỏi cửa, gặp ngay cặp mắt San Jose đang đứng chờ. Vẫn lặng lẽ, không một lời chào, không một gật đầu, dù giương cao, che cho mái tóc San Jose khỏi ướt, và lại trở lại con đường cũ. Không, không phải, đường này sai rồi, tại cây dù lúng túng nên đi lạc rồi, không thấy xe đâu. Hay Orange cố t́nh đi lạc? Không phải đâu, Orange đang cố dơi mắt t́m xe chứ! Đây, đây rồi. Xe San Jose đậu cạnh xe Orange đây. Cánh cửa mở ra, San Jose bước vào và ngước lên nh́n. Mắt San Jose mở lớn đến nỗi Orange thấy cả ḿnh trong đó. “Thanks.” Tiếng nói thứ hai và là tiếng cuối cùng. Xe San Jose từ từ chuyển bánh. Orange bỗng tự nhiên thấy ḿnh già hẳn. Mới phút trước là chàng thanh niên trung niên, hùng tráng, mạnh bạo; chỉ phút sau, chân đă lập cập kiểu ông già tám mươi, tay rung rung cắm ch́a khóa măi mà không vào, đóng cửa măi mà không kín, “đề” măi mà xe không nổ máy làm nước mưa tung tóe vào, ướt cả tóc tai... Tự dưng, Orange muốn ngâm câu thơ cuối của một bài thơ xưa: “Orange ơi! Hồn ở đâu bây giờ?” nhưng thấy một câu thơ không đủ, người Orange bèn phải viết nguyên một bài thơ tặng cho San Jose như sau:

 

San Jose có ǵ lạ không, em?

 

San Jose có ǵ lạ không, em?

H́nh như, ở đó, tóc em rất mềm

H́nh như gió núi làm em mỏng

Đêm lạnh, thở dài, bỗng lạnh thêm.

 

San Jose có ǵ lạ không, em?

Cà phê buổi sáng chưa đă cơn thèm

Nh́n qua cửa sổ, như chim sâu nhỏ

Nửa muốn nằm vùi, nửa muốn bay lên

 

San Jose có ǵ lạ không, em?

Quán xá về khuya, khách ngồi như thiền

Thinh lặng ngó hồn theo ḍng nhạc

Thơ thẩn về nơi rất thân quen

 

San Jose có ǵ lạ không, em?

Chủ Nhật, mưa bay, đi dù rất hiền

Chân “ma sơ” chạm chân trần thế

Anh bỗng thèm một ṿng lưng êm

 

San Jose có ǵ lạ không, em?

Giữa ban ngày mà ḷng như đêm

Giọt mưa hôm ấy c̣n lành lạnh

Cánh cửa nào đă khép lại hồn em?

 

Và San Jose lúc nào cũng lạ

Người t́nh lúc nào cũng lăng đăng xa

Đến hoài mà vẫn như tờ giấy trắng

Chưa nụ hôn nào nóng bỏng môi ta..