THƯ NGỎ KÍNH GỬI ÔNG NGUYỄN TẤN DŨNG,
THỦ TƯỚNG CỘNG H̉A XĂ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM.

Lời đầu tiên là một điều minh xác
Thư này được viết với tư cách một công dân
Sinh đẻ tại Việt Nam, lớn lên và lập thân
Rồi đi xa, nhưng vẫn nhớ quê hương ngào nghẹn
Tôi không gửi thư đến ông như một người kiếm chuyện
Làm quen ông, một chức vụ lẫy lừng
Để sau này, có cơ hội tưng bừng
Về đất nước, bon chen, kiếm chút cháo
Tôi cũng không phải là người táo bạo
T́m cách gần ông, một triệu phú giầu nhất vùng
Nhất Việt Nam, nhất Đông Á, tài sản nhiều vô cùng
Nếu được ông cho một chút lẻ, cũng tiêu hoài không hết
Những biệt thự Hồ Tây, những công ty hàng may, hàng dệt
Những cổ phần con cháu đứng tên giùm
Vợ lớn, bồ nhí, hộ lư,cần vụ, từng chùm
Một cái chỉ tay, người người cúc cung, tận tụy
Những trương mục rải khắp nơi, Mỹ, Tây, Thụy Sĩ
Tiền cứ vô nhà như thác chẩy vào hồ
Từ hồi 75, khi hành chính c̣n xô bồ
Đảng đổi tiền, đánh tư sản, cướp tiền dân, bỏ túi
Cả miền Nam, vài chục tỷ đô la, bỗng nhiên, chia
dấm dúi
Cho vài chục lănh đạo, thử hỏi ai chẳng giầu to
Rồi độc quyền thương gia, xí nghiệp, buôn bán vô bờ
Kư một tờ giấy, là tiền vô như nước
Chị Ba nắm vùng này, anh Sáu vùng kia hưởng phước
Có Công An, c̣ng số 8 , súng Aka
Đứa nào ho he, cứ “nhốt chúng cho ta!”
C̣n “đồng chí”  thích biệt thự nào, cứ lấy
Trước là làm Trụ sở, sau th́ kư giấy
Hóa giá nhà, cho làm chủ khơi khơi
Chưa kể mười sáu tấn vàng, của Trời ơi!
Chia chác cho nhau,không  hề vô Sổ
Các đồng chí vợ lớn, vợ bé tha hồ kêu khổ
Đếm vàng mỏi tay, mắt nhức, lưng đau
Thế là  tài sản đất nước biến mất đâu đâu
Một chốc bốc hơi, nước th́ nghèo, Đảng th́ giầu bự
Thôi, nhưng mà, nói làm chi chuyện cũ
Ba mươi mấy năm rồi, gợi lại, nước mắt nḥa
Tôi chỉ muốn hỏi ông chuyện hiện tại, không xa
Vài câu hỏi, khi ông đến nước Mỹ...


        ****

Có bao giờ ông nhớ lại thời chống Mỹ
Những mẹ già nhịn đói, nuôi ông
Những người thôn quê, giúp ông vót hầm chông
Củ sắn, củ khoai chia cho ông một nửa
Ông nịnh họ là Mẹ Cách Mạng, Mẹ Chiến Sĩ, Mẹ... ǵ nữa?
Giờ đây, ông huy hoàng, họ vẫn cứ long đong
Vách lều năm xưa, vẫn rách nát, từ Xuân đến Đông
Mưa vẫn dột, gió vẫn lùa, lạnh giá
Họ chỉ có chút đất ruộng, chút vườn xưa hương hỏa
Mà Đảng ông lại nỡ trưng thâu
Không một chút ǵ ơn trả cho nhau
Lại táng tận tịch thu, đuổi cổ
Mẹ Chiến Sĩ năm xưa, giờ này, đang khóc khổ
Đứng ngoài đường, làm một lũ “DÂN OAN”
Ông ngồi xe láng đi qua, c̣i hú vang vang
Không nh́n thấy nước mắt mẹ già ướt phố!

Những chiếc áo rách kia, ở nhà ông, chó không
thèm rớ!
Đầy tớ ông, toàn vải ngoại, hàng sang
Những chiếc nón lá kia của lũ “DÂN OAN”
Không bao giờ thấy trong cầu tiêu ông Tỷ Phú
Ông Thủ Tướng ơi! Đảng ông quá giầu, c̣n tham
chi nữa?
Ông chỉ có hai tay, một cái miệng, một bụng to
Ăn đồ ngon bao nhiêu, cũng chỉ đến lúc no
Sao lại để NHÂN DÂN, “NGƯỜI CHỦ ĐẤT NƯỚC” chết đói?
Có lẽ  các ông chỉ thích xài danh từ le lói
Ủy Ban Nhân Dân, Thư Viện Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân
Trung với Đảng, Hiếu với Dân, Đầy Tớ
Nhân Dân...
Mà thực chất, chỉ những Nhân Dân ấy khiếu kiện
Vậy xin ông “Đầy Tớ Nhân Dân” ấy, làm ơn mở ḷng từ thiện
Trả lại cho Nhân Dân ruộng đất cắm cái dùi
Một tấc đất thôi, để mưa nắng khỏi dập vùi
Già sắp chết rồi, mong có chỗ trú mưa cho con cháu
Mấy tấm huy chương, ngày xưa, Đảng cho, là của báu
Giờ xin hoàn lại ông, để đổi lấy chỗ nằm
Có mấy mét vuông, chỉ nhỉnh hơn cái hầm
Hồi đó, Mẹ đào gẫy tay cho các ông ẩn náu...    

****
Thưa Ông Thủ Tướng, ông đông bồ nhí, lắm con,
nhiều cháu
Có khi nào ông nghĩ chúng đứng đường
Mặc quần ḷe, áo hở ngực, kệ phong sương
Chụp giật khách qua đường, bán xác
Những đứa bé mới lớn lên, mặt c̣n ngơ ngác:
“Chú chơi con đi! Con hăy c̣n trinh!
Miễn sao cho mẹ con, khỏi phải bán máu ḿnh
Có mấy lít máu, bán hoài cũng chết
Em con, đang rửa bao ny lông đựng chuột chết
Đựng bao cao su, máu mủ, băng vệ sinh
Đôi khi đựng cả chân tay người thúi śnh
Ruột gan, cơ phận người, bệnh viện vất ra đống rác
Chú ơi! Cả đời con chả biết ǵ, ngoài rác
Đẻ trên đống rác, và lớn cũng ở đây
Mười mấy năm rồi, con mới bỏ que sắt cầm tay
Đi bán “của trời cho”, mong bữa cơm thay cháo...”
Những em gái khác, con cán bộ, lại là dân chơi bạo
Dư bạc tiền, nên hút, chích, lắc như điên
Thích ngủ lang mà không phải v́ tiền
Bố mẹ chúng, Giám Đốc, Bộ Trưởng, quyền uy
kinh khiếp
Chúng tha hồ chơi, đứa nào dám ăn hiếp?
Cả họ phải rũ tù, mang chục án làm gương.
Cho nên, cả thành phố, về đêm, đầy gái đứng đường
Ông có thấy nhục không, ông Nguyễn Tấn Dũng?
****
Ḥ ơ!
Dân tộc ta bốn ngàn năm anh dũng
Từ Văn Lang, Trưng, Triệu, Lam Sơn
Giờ đây, thần khóc, quỷ hờn
Giang Sơn một dải chập chờn thương đau
Hồn sông, hồn núi âu sầu
Tương lai đất nước dăi dầu, mông lung
Nếu ông rời đô thành, đến cao nguyên, thung lũng
Đâu đâu cũng có nghề làm gái không biên cương
Phủ Lư, Lạng Sơn, Bắc Cạn, Hải Dương...
Những địa danh thơ mộng giờ thành ổ đĩ
Một khi con người đói quá, th́ không cần suy nghĩ
Có chi bán nấy, giật dọc qua ngày.
Chân Cửu Vạn, tay xe thồ, lưng không bao giờ
thẳng ngay
V́ khiêng vác, gái trai, ông già, bà lăo
Có những làng, cả ba đời vác gạo
Vượt đồn canh, biên giới, suối khe
Những thân người gầy yếu như cây tre
Chỉ xương cốt, gân xanh, gân đỏ
Có những làng chỉ nghe đàn bà thở
V́ đàn ông chết ráo đâu rồi
Đào vàng, đi ăn mày, t́m trầm, chết dưới vực khơi
Nên đêm tối, tiếng thở dài như băo nổi
Những cô gái chỉ mong một đời có lần trao đổi
Tấm băng trinh lấy chút vị yêu đương
Trong thế giới chửi thề, lên chiếu, xuống giường
Sống như trâu chó, lấy chi mà mơ mộng!
        *****
Ông Thủ Tướng ơi! Có bao giờ ông thấy ḷng
bỗng động?
Khi nh́n h́nh lũ con gái thơ ngây
Đứng trần truồng hàng lũ, dạn dầy
Để lũ vượn ngoại bang sờ sớ, nắn nắn
Thè lưỡi, chu môi, cho chúng mua mua, bán bán
Gái cần đi ngoại quốc, mong có tấm chồng Hàn
Hay Đài Loan, Singapore, các nước lân bang
Một chồng, hay chục chồng, vợ lớn hay vợ lẽ
Nô lệ t́nh dục ư? Miễn sao no ḷng th́ mặc kệ
Đứng trong lồng gương, lên Yahoo rao bán, ôi..
mặc thây!
Chính ông Chủ Tịch nước cũng mới vừa đây
Dụ Việt kiều về nước, nói “gái quê nhà đẹp lắm!”
Không biết ông nghĩ sao, chứ chúng tôi nhục lắm!
Nhục cả ba bốn đời, nhục Quốc Tổ, nhục tông môn
Khi con người chỉ c̣n nghĩ đến bán trôn
Nuôi cái miệng, c̣n chi là danh dự?
Bốn ngàn năm văn hiến, ngời ngời lịch sử
Chống Bắc Phương, Thanh, Tống, Nguyên, Mông
Dũng sĩ trời Nam hiển lộng thần thông
Đánh cho chúng tơi bời cây cỏ
“Đánh cho sử tri Nam Quốc Anh Hùng chi
hữu chủ” (1)
Lời Nguyễn Huệ xưa c̣n lồng lộng không gian
Vậy mà, giờ đây, ông đă dâng Ải Nam Quan
Nộp Thác Bản Giốc cho đàn anh hưởng dụng
Chỉ để cho các ông tung hoàng, dung túng
Lũ công an bắt bớ, dầy ṿ
Các cựu đảng viên, nhà phản kháng, bác sĩ, nhà văn, nhà thơ
Linh mục, luật sư, Thượng Tọa, Đại Đức
Chỉ v́ họ dám hy sinh sức lực
Để nói lên tiếng nói tự lương tâm
Chống đối bất công, chống tham nhũng, bọn vô tâm
Cướp đất, cướp nhà, hành dân hơn trộm cắp...
****
Ông Dũng ơi! Có bao giờ ông trả lời những câu hỏi
đầy ắp:
Tại sao đất nước ta, Người bóc lột Người?
Karl Marx ngày xưa chống nô lệ người
Ăng Gen viết: “Người công nhân phải làm chủ!”(2)
Giờ đây, người lao động sống như trong cũi chó
Không thuốc men, không bảo hiểm, sống liều
Trong “Phố Liều”, “Phường Liều”, hay
“Xóm Liều” (3)
Những chỗ đất hoang, nặc nồng hôi thối
Có khác nào phu mỏ than sống đời tăm tối
Bên nước Anh, nước Pháp thời xa xưa
Nơi Karl Marx tiên đoán cách mạng sẽ nổ ra (4)
Để thực tế, nước ta, hiện nay là vậy đó!
Mấy mươi năm trước :”Nhà văn An Nam khổ như chó!”(5)
Mấy mươi năm sau, hàng chục triệu dân cực hơn trâu
Trừ đi chục triệu dựa vào Đảng, sống trên cổ trên đầu
Dân Việt c̣n lại, kiếp ngựa trâu, khốn nạn
Các ông đánh bạc, chơi ngông hàng trăm vạn
Tiền đô như tiền lèo, khi lao động chỉ vài xu.
Một em bé cao nguyên, gánh củi có vài chục xu (6)
Em bé thành phố, đánh giầy, một ổ bánh ḿ chưa đủ
Trinh trắng em tôi, có chục “đô” một lần ngủ
Thầy cô giáo một tháng được hơn trăm.
Giám Đốc kia , chơi bạc bằng cả làng ăn nhiều năm
Ông nọ cá độ, bằng vài ngàn người sống “mút chỉ”.
Đốt một phong pháo chơi, bằng tiền mua bao trinh nữ
Nuôi một chú “bẹc giê”, phải nuôi thêm vệ sĩ cả bầy
Các sân chơi Gôn của ông, thẳng cánh c̣ bay
Bằng ruộng lúa cả làng tôi, hay cả họï

****

Hỡi anh đi đường cái quan
Dừng chân đứng lại, em than đôi lời
Dân ta khổ lắm, anh ơi!
Trẻ thơ thiếu áo, người người thiếu ăn
Bí Thư, Đảng Ủy hung hăng
Con ông, cháu cậu, bạo tàn hiếp dân.
            
****

Ông Thủ Tướng ơi! có bao giờ nh́n thấy lũ người rúm ró
Lạy lục van xin trước cửa bệnh viện Nhân Dân
Xin được chữa bệnh, được nạo thai, được một chỗ
đặt chân
Một chiếc chiếu đặt thằng con sắp chết
Ông có nghe tiếng quát nạt giữa tiếng rên xiết
Tiếng khóc than ấm ức, tiếng kêu Trời
Tiếng “c̣ bán máu”, “c̣ thuốc Tây” hay “c̣ chạy quan tài”
Muốn được chết cũng không yên thân nằm chỗ
Ông Công An chưa cho phép “chết”, gia đ́nh c̣n khổ
C̣n nhờ “c̣” đút lót, trao tay
Ở đâu cũng có “c̣”: “c̣ xin việc”, “c̣ chạy án”, hay “đường dây”
“Đường dây bán máu”, “đường dây phá thai”, “đường dây bệnh viện”
Muốn chữa bệnh: Tiền! Muốn chết: Tiền! Muốn chôn: Tiền!
Chôn rồi, muốn không bị phá, lại cần thêm tiền nữa!
Ôi! Từ sinh ra đến chết, lúc nào cũng có người
đứng giữa
Có bóng anh Công An Nhân Dân quyền hạn tầy đ́nh
“Luật ở miệng tao!” Anh hănh diện chỉ vào ḿnh (7)
Kẻ cai trị những con người Việt Nam Mù, Ḷa,
Câm, Điếc
Không c̣n thấy chút nào nhiệt huyết
Chỉ thấy Mù lương tâm, Điếc tai, Ḷa mắt,
Câm mồm!
Trước hiện tượng cả nước đang phát triển nghề “Ôm”!
Bia ôm, ngủ trưa ôm, vơng ôm, hớt tóc ôm
Karaokê ôm, chè đậu xanh ôm, mía ôm...
Học sinh ra trường, không có nghề, th́ ôm đại
Cả nước, chỉ 30% học sinh được “Tổ” đăi (8)
Vào đại học rồi nam sinh cờ bạc, nữ sinh làm vợ thuê
C̣n lại nhóm kia, th́ làm đủ nghề
Miễn sao có tiền trường để tiếp tục học
Trong xă hội có Bí Thư-“Cử Nhân” mà không biết đọc
Viện Trưởng Viện Kiểm Sát Nhân Dân đi mua bằng
HIệu trưởng Trường Đại học không có lấy một
tấm bằng
Giám Đốc Bệnh Viện mới học lớp ba bổ túc
Tổng Giám Đốc mới vừa qua chương tŕnh bổ túc
Tất cả  giống nhau  là tham nhũng, khoe khoang
Mua xe hơi trăm ngàn đô la mới sang
Trong khi người nghèo th́ bán mạng, làm liều mong sống sót...
        
****

Ông Thủ Tướng ơi! Đảng ông thích lời nói ngọt:
“Lương tâm của Thời Đại, Đất nước Anh Hùng”
Nhiều đến nỗi “ra ngơ cũng gặp anh hùng” (9)
Giờ th́ chỉ thấy một văn chương “Đéo!” (10)
Từ nữ sinh đến ông già, mở miệng là “đéo”
“Đéo sợ thằng nào! Đéo thông cảm! Đéo cần lịch sử!”

“Đéo cần tử tế! Đéo cần giúp ai! Đéo vào thiên
hạ sự!”
Ở đời, cứ có tiền là nhào dô, đánh du kích, rồi rút lui.
Cây gỗ quư cứ chặt bừa, thú rừng cứ đốt thui
Chất hóa học đổ tràn, kệ cha chúng mày chết dấp!
Kệ rừng biến thành sa mạc, kệ sông đục rồi vùi lấp
Kệ bờ sông lở bồi, cứ lấy cát bán buôn
Kệ nhà dân tụt xuống sông, kệ rạch biến thành truông
Kệ khói bụi, ho lao, thủng phổi
Kệ thức ăn pha trộn chất diêm muối
Kệ nước tương là chất độc kinh hoàng
Kệ thế hệ này, thế hệ nữa, tan hoang
Miễn tiền đô Mỹ cứ chui vào quỹ
        
*****

Ông Thủ Tướng ơi! Biết nói chi nữa nhỉ?
Nói nhiều th́ lệ tràn, mà cũng vô ích mà thôi
Đảng của ông vẫn chễm trệ ngồi
Trên mấy chục triệu dân ngu, dân khổ
Hàng trăm bài báo, hàng ngàn tờ công tố
Vài vạn buổi truyền thanh, truyền h́nh quốc tế
Trăm cuộc biểu t́nh của DÂN OAN như thế
Ông vẫn b́nh tâm rung đùi, máy lạnh, gái chung quanh
Ông như Lê Ngọa Triều, Lê Chiêu Thống
hôn quân
Đóng cửa, bịt tai tàn tàn hưởng thụ
Những khẩu hiệu khiếu kiện tràn đầy đường phố
“Thủ Tướng ơi! Cứu Dân!”, “Đảng ơi! Cứu dân!”
Ông ra lệnh tống giam mấy thằng kích động nhân dân
Mặc dù chúng chỉ khóc than những lời đau đớn
Báo chí ông chụp mũ, bắt những ai có ḷng hảo hớn
Đến chia gói ḿ, chia ly nước cho DÂN OAN
Chưa có ai dám gọi ông là HÔN QUÂN
Chưa có ai dám gọi ông: “Lũ cướp ngày của
lịch sử!” (11)
Họ chưa sánh ông với Tần Thủy Hoàng, Staline, hoặc ai trong lịch sử
Đă dùng cường quyền trấn áp dân đen
Họ chỉ quỳ xuống, van xin ông, đừng “Đến hẹn
lại lên” (12)
Cứ đến hẹn là nhà bay, đất mất
Bí thư Xă, Chủ Tịch Phường hễ ra hẹn nộp đất
Mà không tuân, th́ Xử Lư nghiêm minh
C̣n bồi thường? Th́ tuy đất một ngh́n
Ông “Lư Trưởng”: “Một trăm? Không chịu?
Kệ mẹ!” (13)
Ông “Trương Tuần”: “Chống phá Cách Mạng! Đánh bỏ mẹ!?”
Bà “Tổng Cai” th́: “Nhốt chúng cho biết tay!”
Những tay “phú lít Tây” lập tức ra tay
Có khác ǵ đâu, những ngày mà các ông bị Tây nhốt
Xà lim sẵn sàng cho “cặp rằng” đi hốt
Hơn nửa thế kỷ sau, những “chị Dậu” của “Tắt đèn”
Những Bà Địa Chủ ngỏn ngoẻn ép buộc dân đen
Bán chó, bán con, cho mấy thằng già bú sữa
Những “anh Dậu” bị gông ra đ́nh, đánh cho ụa mửa
Vẫn dẫy đầy trong xă hội ông trị cai
Chỉ khác là ngày xưa, thông tin ít, nên thế giới không đoái hoài
Nay th́ cả quốc tế đồng thanh lên án
Các ông vẫn mặt trơ, bóng trán
Ngậm miệng ăn tiền, đàn áp lũ “dân ngu, khu đen”

        ****

Thủ Tướng ơi! C̣n nhớ ngày các ông giương lá cờ lên
Có “búa - liềm” tượng trưng cho nông dân, lao động?
Các ông hô hào đánh tư sản mại bản, tiếng loa lồng lộng
Bảo vệ nông dân, hỗ trợ công nhân!
"Vùng lên! Hỡi các nô lệ của thế gian!"
Giờ th́ nông dân vẫn là ngựa, nông dân vẫn là trâu
Vài trăm ngàn người ông cho là Tư sản, địa chủ , đă theo nhau
Chết trong đấu tố, Lư bá Sơ, hoặc kinh tế mới hết ráo
Chủ trương của các ông được thi hành rốt ráo
Sao bây giờ cả Đảng thành Tư Sản Mại Bản, bán nước cho Tầu?
Hoàng Sa, Nam Quan, Thác Bản Giốc nay c̣n đâu?
Đảng nhượng từng phần Vũng Tầu, Đồ Sơn, Nha Trang... mở ṣng bạc
Chỗ nào có tiền ngoại ngon lành là các ông kiếm chác
Kư giấy nhượng luôn cho Tư bản vài chục năm
Không c̣n nhớ từ Triệu, Trưng.. luôn chống giặc
ngoại xâm
Các ông chỉ đặt bút kư là đất thiêng biến mất!
Ôi! Có khi nào mà ông nghĩ đến đau thương chất ngất
Hàng triệu triệu người chiến sĩ hy sinh
Đă đổ máu xương ra bảo vệ từng tấm sinh linh
Bảo vệ danh dự dân Việt, bốn ngàn năm lịch sử
Có bao giờ mà mắt các ông nḥa lệ?
Nâng ly ruợu ngoại lên là thấy máu trong tay?
Ăn miếng cơm ngon mà tưởng như ăn thịt dân đây?
Mỗi ngụm ruợu là cả triệu trẻ em đói khát
Một lần các ông vung tay chơi bời, ngàn gia đ́nh
tan nát...        

****
Thủ Trưởng ơi! Ông có tin vào một Đấng trên cao?
Oâng có khi nào thấy hồn ma thét gào?
Mỗi khi ông ngủ, có một hồn ma đứng cạnh giường
ông đó!
Hồn chiến sĩ Sinh Bắc, Tử Nam nh́n ông dúm dó
Sau trận truy hoan gái đẹp, rượu ngon
Ông ngủ say sưa, cứ  thay nhau từng hồn
Hồn Bộ Đội, hồn Giao Liên, hồn Thiếu Nhi, cháu Bác
Hồn Mẹ Nuôi, Hậu Cần,Thương Binh Trung
Nam Bắc
Cùng kéo nhau về thăm “Thủ Trưởng" năm xưa
Họ sẽ hỏi ông: “Thủ Trưởng muốn chết mấy cho vừa?
Ḷng Tham, Sân, Si của những người lănh đạo
Một chế độ độc tôn, độc quyền, tàn bạo
Không kể hạnh phúc dân đen, vận nước long đong
Mới vừa đây, báo cáo “vài ngàn tỷ xuống sông
V́ tiêu phí cho mấy ông Thủ Trưởng?”
Ôi! Trời ơi! Nước ơi! Không thể tưởng tượng!
Giữa thế kỷ văn minh này mà đất nước tồi tàn
Vẫn long đong giữa thế lực ngoại bang
Một Tầu, hai Mỹ, miễn sao cho các ông hưởng thụ!

        ****

Thưa Ông Thủ Tướng!
Chúng tôi, không kể là người chế độ cũ
Người miền Bắc, Nghệ An, Quảng Trị, hay Quảng B́nh
Cùng viết thư này mong các ông nghĩ t́nh
Là dân Việt mà lắng nghe lời chân thực
Hăy quỳ xuống, sám hối, khi c̣n kịp lúc!
Sám hối với nhân dân, sám hối với Tổ Tiên!
Tội nghiệt các ông mang, lẽ ra phải trừng phạt
triền miên
Nhiều đời, nhiều kiếp, vạc dầu, tùng xẻo
Nhưng v́ tương lai của dân ta, thôi đành ḥa dịu
Không muốn đấu tranh, chỉ đ̣i các ông trả lại
dân quyền
Trả Tự Do, Dân Chủ, Nhân quyền
Cho mọi người dân cùng dựng xây trên tan nát
Bỏ điều 4 đi, đừng nghĩ là tự sát!
(Đúng ra, nếu các ông Tự Sát, cũng đúng thôi!)
Hăy từ bỏ đặc quyền, trả lại quyền cho tất cả chúng tôi
Tám mươi triệu người Việt máu đỏ, da vàng yêu dấu
Hăy nh́n thẳng vào những khuôn mặt đau đáu
Hăy lắng nghe tiếng nói của lương tâm
Hăy bàn giao quyền lợi cho giới trẻ, thanh xuân
Những người chủ tương lai của đất nước
Hăy mở cửa nhà tù, t́m những người từ trước
Vẫn kiên gan đ̣i sống theo trái tim
Như vậy, mới mong đất nước không đắm ch́m
Trong nô lệ, cùm gông, không lối thoát
Mau mau lên, rừng vàng biển bạc
Sắp tan thành sa mạc, bể dâu
Thế hệ này không kịp nữa đâu
Chỉ c̣n thế hệ sau, mới mong vững chăi
Thôi, vài lời dông dài, viết hoài nói măi
Cũng chỉ là những giọt lệ thương đau
Những giọt máu trong tim đă vỡ vụn, nát nhàu
Của những tâm hồn Việt Nam
        Chân Thành, Trung Thực.
 

 

(1)    Hịch của Đại Đế Quang Trung.
(2)    Ăng-gel: Những công nhân phải làm chủ tư liệu sản xuất. Thực tế, nhà nước Việt Nam là chủ toàn bộ tư liệu sản xuất.
(3)    Xóm Liều, Phường Liều...: Những khu vực của dân không hộ khẩu, anh chị, sống liều mạng
(4)    Karl Marx: Tiên đoán cách mạng vô sản sẽ nổ ra ở những nước Tư Bản. Thực tế, Cách mạng vô sản xẩy ra ở Nga là nước có chế độ Nga Hoàng.
(5)    Thơ Nguyễn Vỹ.
(6)    Một em bé bán củi vụn, măng tre ở Cao Nguyên suốt ngày được 30 xu.
(7)    Một anh công an đi bắt những nhà phản kháng, khi được hỏi về Luật nào cho phép bắt người, đă quát lên: “Luật ở miệng tao!”
(8)    Mỗi năm, chỉ có 30% học sinh Trung Học được vào Đại Học v́ không có trường.
(9)    Các câu nói, tiếng nói phổ thông ở ngoài Bắc.
(10) Tiếng chửi thông dụng ở ngoài Bắc
     (11) Ca dao: Con ơi nhớ lấy lời này
    Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan.
     (12) Tên một cuốn phim cách mạng
     (13) Hệ thống cai trị làng xă bây giờ không khác ǵ thời  
  Tây Thực Dân đô hộ.
   Bí thư = Tiên Chỉ,
   Chủ tịch = Chánh Tổng hay Lư Trưởng,
   Công An = Trương  Tuần hay Phú Lít Tây.




NHỮNG ĐIỂM “NHẤT” CỦA VIỆT NAM

A.    NHỮNG ĐIỀU HĂNH DIỆN
1-Dân tộc nào khởi nghĩa chống đô hộ thành công sớm nhất trên thế giới: VIỆT NAM.
2-Người phụ nữ cách mạng tiên khởi trên thế giới:    HAI BÀ TRƯNG                
3-Dân tộc nào có phụ nữ lănh đạo cách mạng nhiều nhất: VIỆT NAM. (Hai bà Trưng và các tướng lănh, Bà Triệu, các tướng lănh của Quang Trung.)
4-Số lượng các cuộc cách mạng chống đô hộ nhiều nhất trải dài trên một lịch sử lâu đời nhất: VIỆT NAM.
5-Quân Đội Á Châu nào nổi tiếng nhất về sự can đảm và anh hùng trong cuối thế kỷ 20: VIỆT NAM.
6-Dân tộc nào đă chiến thắng quân đội Mông Cổ, lực lượng xâm lăng vô địch trên thế giới: VIỆT NAM.
7-Dân tộc nào bị đô hộ cả ngàn năm mà không biến chất: VIỆT NAM.
8-Dân tộc Á Châu nào đă chiến thắng oanh liệt các lực lượng xâm lăng lớn gấp trăm lần: VIỆT NAM.
6-Dân tộc nào có nhiều nhà thơ được vinh danh tại Liên Hiệp Quốc: VIỆT NAM (Nguyễn Du, Hồ xuân Hương, và Nguyễn Trăi)
7-Dân tộc nào có truyền thống làm thơ từ b́nh dân đến trí thức: VIỆT NAM. (Quan Họ, ḥ, vè, và thơ.)
8-Dân Á Châu nào có tướng lănh được tôn vinh trong lịch sử những tướng lănh lừng danh thế giới: VIỆT NAM (Trần Hưng Đạo và Nguyễn Huệ)
9-Tên quốc gia nào được nhắc đến nhiều nhất trên báo chí và truyền thông cuối thế kỷ 20: VIỆT NAM.
10-Dân tộc nào có nhiều nhân tài sáng giá tại nước ngoài đầu cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21: VIỆT NAM.
11-Cộng đồng di tản thiểu số nào trong các quốc gia phương Tây được mến phục về tài năng và sự các lực lượng chính trị: VIỆT NAM.