XEM "LÁ THƯ TỪ CHIẾN TRƯỜNG" CỦA BAN ASIA, NGHĨ VỀ SỰ BỨC TỬ CỦA MỘT QUÂN ĐỘI ANH HÙNG.

Vừa bước vào trong rạp hát Convention Center của Long Beach, khán giả có cảm giác như bị choáng ngợp bởi một khung cảnh hoàn toàn khác lạ với thế giới bên ngoài. Nhất là những người lính thuộc chế độ Cộng Ḥa, phục vụ tại các văn pḥng chuyên môn hay các chiến sĩ đă từng xông pha trong lửa đạn, Bộ Binh, các đơn vị chuyên môn, Thủy quân Lục chiến, Biệt Động Quân, Nhẩy Dù, Hải Quân hay Không Quân, hay những chiến sĩ Địa Phương Quân .. đều cảm thấy như đă trở về ngày tháng cũ. Các vọng gác, kẽm gai, hàng rào bao cát, xe díp và ánh đèn pha.. đang hiện diện ràng ràng rỡ rỡ, gợi nhớ bao nhiêu kỷ niệm, mồ hôi và máu. H́nh ảnh bạn bè quanh quẩn đâu đây. Doanh trại biên pḥng hay hậu cứ. Tiếng thanh nhọn của M- 16 lẫn với tiếng đại liên M- 60. Hỏa châu bùng lên cho những sợi lân tinh rơi xuống. Bóng dáng những người lính gác giặc vững tay súng cho một đất nước b́nh yên, lại bàng hoàng trong tim người dân miền Nam, những tâm hồn b́nh dị, gửi gấm trọn niềm tin vào những chiến sĩ Cộng Ḥa. Ở đâu có lính, ở đó có dân. Lính đi đâu, dân theo đến đó. H́nh ảnh những người gác súng một bên để đỡ cho người mẹ già ngồi xuống nghỉ chân, và băng bó cho đứa em nhỏ máu lệ chan ḥa, lại sáng bừng lên trong chương tŕnh ca nhạc chủ đề "Lá Thư Từ chiến Trường" của Trung Tâm Asia.

Đă bao nhiêu năm rồi, người lính cũ không có dịp cầm lại cây súng thân yêu ngày xưa, cây súng có nạp đạn thật, nằm lăn ra dưới gốc cây hay trên bờ đá lổn nhổn, cởi cái nón sắt ra, gác đầu lên đó, t́m sự b́nh yên trong giây phút rồi lại lên đường, hành quân tiễu giặc. Đă bao nhiêu năm rồi, người lính cũ chỉ c̣n biết chiến đấu cô đơn, không quân phục, không súng đạn, không hậu cứ, không tiền tuyến. Cuộc chiến bây giờ không có tiếng nổ vang của đạn pháo, mà chỉ có những tiếng gọi thiết tha của dân tộc đang bị đàn áp, thống trị bởi một chủ nghĩa độc tài, nhũng loạn, sắt máu, vô nhân và vô đạo.V́ thế, khi nh́n thấy những h́nh ảnh mà Asia mang lại, khi nghe những bản hùng ca cùng các khúc hát quân dân cá nước, khán giả lại bùi ngùi rơi lệ. Các tiếng hát một thời của lính, các khuôn mặt diễm lệ, thân yêu của những ca sĩ đă từng lăn xuống chiến hào với lính, đă từng cất tiếng lên, vượt từ giao thông hào này đến đồn canh kia, đem lại hơi ấm cho người lính trận đang ngồi gác một ḿnh, giờ đây lại vang lên, ngọt ngào như thuở nào.

Nhưng, trên hết tất cả các lời ca ấy, h́nh bóng ấy, điều đáng viết ở đây, là những uất hận của những người lính bị chính trị bức tử. Nh́n vào những nghệ sĩ mặc áo lính kia, biết họ chỉ là nghệ sĩ, nhưng họ chính là h́nh ảnh của các người lính hiên ngang của một quân đội, mà theo lời một danh tướng Hoa Kỳ, chỉ huy Binh Chủng Nhẩy Dù, là "một quân đội anh dũng không thua bất cứ một đạo quân anh dũng nào trên thế giới".
Cũng theo lời ông, họ chính là những chiến sĩ "đánh giặc như Sư Tử". Vậy mà, năm 1975, họ đành phải bỏ quân phục, mang lấy áo tù, hay bộ quần áo dân sự, lưu vong khắp các miền trên thế giới. Tại sao lại đau đớn như vậy?

Có người cho rằng đó là do yêu cầu của quyền lợi Hoa Kỳ. Bỏ một địa bàn kinh tế chỉ có vài chục triệu người để lấy gần một tỉ dân số của Trung Cộng làm thị trường tiêu thụ hàng hóa Hoa Kỳ th́ là một điều nên làm cho một cường quốc lúc nào cũng muốn phát triển tối đa. Có người cho rằng v́ áp lực của dân chúng Mỹ đă chán nản chiến tranh mà trói tay Tổng Thống. Cũng có thể v́ thời gian đó, báo chí thiên tả tràn ngập, trên tờ báo nào cũng có mùi thuốc súng làm dân chúng sợ. Con số 58,000 tử sĩ không phải là con số nhỏ.

Thực tế, với sự quan sát giới hạn của người viết, đă được huấn luyện tại trường Sĩ Quan Trừ Bị Hoa Kỳ, cuộc chiến Việt Nam chỉ là một trường thí nghiệm vũ khí và tinh thần chiến đấu của quân đội Việt Nam Cộng Ḥa, cũng như để thử thách và t́m hiểu vũ khí của Trung Cộng và Liên Xô. Người Mỹ chỉ trang bị cho miền Nam những thứ vũ khí cần thiết để tự vệ sau khi các vũ khí tối tân của Trung Cộng và Liên Xô đă muốn đè bẹp miền Nam, mặc dầu những thứ vũ khí ấy, chất đầy trong kho đạn của Mỹ. Chỉ SAU KHI miền Nam bị động v́ một thứ vũ khí nào đó của Cộng Quân, người Mỹ mới thả ra những vũ khí có tính cách khắc chế. Không thấy người Mỹ trang bị cho miền Nam những vũ khí Tối Tân TRƯỚC KHI binh sĩ Cộng Sản được cung cấp những loại ác hiểm.

Năm 1968, khi trận Mậu Thân nổ ra, binh sĩ miền Nam c̣n trang bị súng trường M.1 được xử dụng từ thế chiến trước, bắn phát một, và mỗi lần thay gắp đạn, th́ mất thời gian và có nguy cơ bị cơ bẩm dập ngón tay cái. Sĩ quan nào ưu tiên, có thể có Carbin M.1, ít khi có M.2. Tiểu liên Thompson cũng chỉ giới hạn. Đại liên 30 th́ lỗi thời, hay kẹt đạn. Trung liên BAR cũng thế, và không phải tiểu đội nào cũng có. Trong khi đó, Cộng Quân đă được Trung Cộng và Liên Xô trang bị bằng mọi thứ tiểu liên AKa cực nhanh, một băng đạn có cả 20 viên, dễ thay và chịu nước, không bị kẹt đạn. Với sức mạnh áp đảo về vũ khí cá nhân như thế, Cộng Quân tưởng có thể nuốt sống miền Nam, tuy nhiên, sự thật lại không diễn ra theo như chúng dự tính. Suốt thời gian đầu, dù súng chỉ bắn viên một, quân đội anh hùng miền Nam vẫn giữ vững được hầu hết mọi thành tŕ, chỉ có Huế là tang thương.

Sau khi quân đội miền Nam vất vả chiến đấu hết sức ḿnh bằng cây M.1 lỗi thời, Mỹ mới gửi sang AR- 15 hay M-16 để địch lại với AKa của Cộng Quân. Điều cần nói ở đây, là trước thời gian ấy, người viết đă được bắn M-16 tưng bừng. Loại súng dành cho cơ bản thao diễn cũng là một thứ vũ khí mạnh, M - 14, bắn liên thanh hoặc phát một, kẹp đạn 20 viên, chỉ xài trong quân trường, không thấy phát cho lính miền Nam. Giả sử những năm 1966-67, quân đội miền Nam có M. 14 thay v́ M.1 th́ chắc chắn lịch sử cũng phải tường thuật một cách hoàn toàn khác.

Về đại liên, các sinh viên sĩ quan Mỹ đă được bắn M - 60 như điên, bắn nằm hay bắn đứng như cao bồi, tựa báng súng vào đùi mà bắn, không nhớ số lượng đạn. C̣n miền Nam, măi đến năm nào mới có M - 60? Súng cối cũng thế, loại 60 ly chỉ dùng như súng cổ tích, sinh viên thích bắn kiểu cao bồi, tức là một tay chĩa ṇng súng lên đâu đó, một tay thả quả đạn vào, nghe nổ cái "chóc" vui tai. Súng cối 90 ly cũng là loại xưa với quân đội Mỹ, loại chính mà Sinh viên mỗi người phải bắn một số quả là súng cối 4.2., rất chính xác và dễ điều chỉnh. Súng cối 4.2 có thể để dưới đất, hay gắn vào thiết vận xa M.113, bắn dữ dội. Khi ấy, nhiều đơn vị miền Nam vẫn c̣n dùng súng cối 60 để bảo vệ trận địa?

Về súng lớn, sinh viên được học bắn 105 ly đặt sau xe díp. Học bắn trực xạ chỗ này, rồi kéo xe chạy chỗ khác, cơ động rất nhanh. Ngoài ra, c̣n M.72 , các loại hỏa tiễn đất đối không rất hữu hiệu. Loại này chỉ được tung ra trên mặt trận miền Nam, SAU KHI hỏa tiễn B.40 và B.41 của Cộng quân đă tung hoành ngang dọc, hí lộng sa tràng. Mùa hè đỏ lửa, để chống lại M.72, Cộng Quân dùng thiết giáp T.54. Lúc ấy, M. 72 chỉ có tác dụng khi bắn thẳng vào xích. Sự yếu kém đó làm cho T.54 của Cộng Quân ào ào tiến vào miền Nam. Măi sau, Mỹ mới gửi sang loại M. 202 có bốn ṇng, đạn lơm là khắc tinh của T.54. Thật ra, loại này đă được xài cho lính Mỹ từ hồi nảo, hồi nào rồi.

Những sinh viên sĩ quan Mỹ không thể nào quên được những buổi biểu diễn hỏa lực kinh hồn, hỏa lực mà ít thấy trao cho quân đội miền Nam, hoặc giao khi trận chiến gần tàn. Thí dụ như xe tăng bắn 400 quả lựu đạn M.79 một phút, nghe y hệt như tiếng ḅ rống của đại liên gắn trên C 130. Mỗi quả lựu đạn có tầm sát thương trên 10 mét vuông, giả sử mà làm một loạt vào rừng cao su, nơi một tiểu đoàn Cộng Quân đóng chốt, th́ chỉ trong vài phút có thể tiêu tan vài trăm mạng, v́ không giống như đại bác, quả đạn có thể bị vướng chướng ngại nên nổ linh tinh, trong khi quả M.79 gọn nhẹ, mà 400 quả trong một phút, 5 phút có 2000 quả lựu đạn được tung ra theo hướng ṿng cầu, rớt từng lỗ, như thẩy bi... C̣n những loại thiết giáp trang bị 4 ṇng đại bác, thiết giáp phun lửa, thiết giáp có một đại liên M - 60 và một đại liên 50 ly, kinh hoàng.