NHỮNG THIẾU SÓT TRONG THUYẾT TIẾN HÓA CỦA DARWIN VÀ THUYẾT  “BIG BANG”.

 

                                                                                    Chu tất Tiến

 

  Sau khi Charles Darwin xuất bản cuốn “On The Origin of Species”(Về Nguồn gốc  các chủng loại) vào năm 1859, các cuộc tranh luận về nội dung cuốn sách đă liên tục tiếp diễn bởi các nhà khoa học, lư luận, thần học, và lôi kéo thêm rất nhiều người tranh căi ngoài ḍng khoa học chính thức. Tuy nhiên, v́  không có cơ hội đọc tất cả các tài liệu liên hệ hoặc tham dự đầy đủ các cuộc thảo luận, nhiều người đă hiểu vấn đề một cách nông cạn. Dần dần, theo thời gian, những tư tưởng lệch lạc xuất hiện, làm biến dạng vấn đề một cách kỳ quặc. Có những người thần thánh hóa lư thuyết của Darwin và cho rằng ông là một vĩ nhân đă t́m ra nguồn cội của con người. Những người Cộng Sản hay ủng hộ lư thuyết Cộng Sản đă tung hô Darwin một cách quá đáng và từ đó, phỉ báng tất cả các niềm tin tôn giáo khác. Một số lư thuyết gia th́ hoài nghi cả Darwin cả tôn giáo. Thực tế, nếu nh́n vào thuyết Tiến Hóa một cách khoa học và khách quan, những nhà nghiên cứu về chủng loại, về Nhân Loại Học, về Di Truyền đă t́m thấy trong lư thuyết của Darwin có nhiều lỗ hổng (gaping holes) trong giai đoạn sơ khai của loài người theo. Oâng ta đă không thể lấp đầy những khoảng trống ấy và t́m cách che dấu đi bằng những khảo cứu thực tiễn trong những thời đại của ông ta. Sau này, với sự khám phá những bộ xương người nguyên thủy, các tác giả cận đại cũng dựa vào lư luận của Darwin mà tiếp tục quảng bá cho thiên tài này, mà không lưu ư rằng, lư thuyết của Darwin vẫn chỉ là một giả thuyết có một số kiểm chứng chưa đầy đủ. Bài viết dưới đây, tuy ngắn ngủi, nhưng mong được tŕnh bầy một phần nào những lỗ hổng trong Thuyết Tiến Hóa của Darwin

     I-Giả Thuyết, Lư Thuyết, và Luật:

    Trước khi đi vào chi tiết của Thuyết Tiến Hóa, ta thử t́m định nghĩa cho chữ “Thuyết” hay “Lư Thuyết”. Trong văn học, Thuyết hay Lư Thuyết chỉ là một. Khi nói

một cách trang trọng, người ta dùng chữ “Lư thuyết”, khi nói ngắn gọn, dùng chữ “Thuyết”. Không có sự phân biệt giữa hai chữ này.  Theo Tự điển Nguyễn văn Khôn, miền Nam xuất bản:” Theory. n. = Thuyết, lư thuyết, lư luận.” Theo Tự điển Anh Việt của Ủy Ban Khoa học Xă Hội, miền Bắc xuất bản: “Theory. dt. = Thuyết, học thuyết, lư thuyết, lư luận, nguyên lư.” Hiện nay, những điều mà Darwin khám phá vẫn chỉ được gọi là “Thuyết Tiến Hóa” hay “Lư Thuyết Tiến Hóa” (Evolutionism and/or Theory of Evolution.)

   Trong các môn khoa học thực nghiệm, khi nói đến các khám phá được thu dụng, người ta chia ra làm ba cấp độ:  Giả thuyết (Hypothesis), Lư thuyết (Theory), và Luật (Law). Trước hết, một nhà khoa học t́m thấy một thay đổi lạ, một liên hệ lạ giữa các vật chất, ông ta sắp xếp các liên hệ hay sự t́m thấy mới lạ đó thành một hệ thống và gọi hệ thống lư luận mới đó là một Giả Thuyết. Nhà khoa học đó tŕnh bầy giả thuyết của ḿnh cho các nhà khoa học khác để cùng nghiên cứu. Sau khi lập đi lập lại giả thuyết đó và đa số t́m được một lập luận tương đối vững chắc, giả thuyết ấy được các khoa học gia gọi là Lư Thuyết. Nếu lư thuyết ấy đứng vững trước mọi thử thách qua mọi thời đại, hoặc có thể được chứng minh bất cứ lúc nào cũng đúng, không c̣n ai phê b́nh, chỉ trích nữa, lúc ấy Lư Thuyết mới biến thành Luật và mọi người phải tuân theo. Chẳng hạn như Luật Bảo Tồn Năng Lượng hay Luật Quán Tính của vật lư và các định luật toán học. C̣n lư thuyết của Darwin, cho đến nay, vẫn c̣n là Lư Thuyết, chưa phải là Luật, và sẽ vĩnh viễn không bao giờ thành Luật, dù cho đến ngày Tận Thế.

   Trong khi đó, tương tự, thuyết Sáng Tạo (Creationism) của các nhà thần học Thiên Chúa Giáo cũng vẫn chỉ là Lư Thuyết, chưa phải là Luật, v́ có nhiều điều không thể chứng minh bằng khoa học. Theo Tự điển Webster’s Ninth New Collegiate Dictionary: “Creationism: a doctrine or theory holding that matter, the variuos form of life, and the world were created by God out of nothing.” ( Thuyết Sáng Tạo: một học thuyết hay một lư thuyết cho rằng vật chất, các thể khác nhau của đời sống, và trái đất đă được Thiên Chúa tạo ra từ chỗ không có ǵ.) Năm 1973, tiểu bang Tennessee ban hành một đạo luật yêu cầu rằng sách học phải dậy Thuyết Tiến Hóa như là một lư thuyết, không phải một khoa học, trong khi lại bắt buộc phải gồm thuyết sáng Tạo vào học tŕnh sinh hóa. Năm 1981, tiểu bang Louisiana đă thông qua một luật bắt buộc các trường trung học phải “giảng dậy  công bằng với môn gọi là Khoa học Sáng tạo” (Phillip E. Johnson. Darwin on Trial. trang 3) Cùng năm đó, tiểu bang Arkansas cũng thông qua một đạo luật đ̣i hỏi các trường Trung hoc phải giảng dậy công bằng giữa “creation-science” và “evolution-science”. (Sách đă dẫn. Trang 112). Không những các nhà lập pháp đă gọi thuyết Sáng Tạo (creationism) mà c̣n trang trọng gọi là Khoa Học Sáng tạo nữa. Năm 1974 , Whitcomb và Morris đă phổ biến cuốn sách giáo khoa tựa là “Scientific Creationism” để dùng trong các trường học phổ thông. (Del Ratzch. The Battle of the Beginnings. 1996. tr.75)  Hầu hết các sách liên quan đến cuộc tranh luận, dù là từ phía những người chống đối thuyết Sáng Tạo, cũng vẫn dùng hai danh từ ngang nhau : “evolutionist” và “creationist”. Chưa có ai dám gọi là Luật Tiến Hóa hay Luật Sáng Tạo cả.

   V́ tính chất thiếu minh bạch khoa học như thế, cả hai thuyết Sáng tạo và Tiến Hóa cứ trên đà tranh luận măi, không có hy vọng chấm dứt. Tuy nhiên, mới đây, năm 1997, Richard Milton đă cho xuất bản một cuốn sách có tựa đề là: “Đập vỡ huyền thoại về Thuyết Darwin” (Shattering the Myths of Darwinism). Richard Milton là một người viết báo khoa học và là một kỹ sư họa kiểu ở Luân Đôn. Ông cũng là thành viên của Mensa, xă hội “high-IQ”, (xă hội của những người trí thức cao cấp), viết cho tờ Mensa Magazine, ông đồng thời là thành viên của Hội Chuyên Gia Địa Chất trong hơn 20 năm. Richard Milton đă được mời lên thuyết tŕnh trong các chương tŕnh của BBC, NBC, và các đài truyền h́nh khác. Ông phê phán kịch liệt những lỗ hổng (gaping holes) của lư thuyết Darwin, và cho rằng đây vẫn chỉ là một lư thuyết. Cùng lư luận với ông, nhiều nhà khoa học khác, kể cả các nhà khoa học về Cloning (truyền giống vô sinh) cũng chứng minh rằng lư luận của Darwin chưa hoàn toàn đầy đủ.

     II-Về Thuyết Big Bang:

    Ngược lại với những dẫn chứng của phe chống thuyết Tiến Hóa và đề cao thuyết Sáng Tạo, một số khoa học gia cố chứng minh rằng không có việc Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ, mà cho rằng sự xuất hiện của các hành tinh là một sự ngẫu nhiên. Qua sự nghiên cứu các thiên hà, họ đă đưa ra một lư thuyết mới: Thuyết “Big Bang”.  Họ  cho rằng sự kiện Mặt Trăng, Mặt Trời, Trái Đất và các hành tinh được tạo ra từ một vụ nổ vũ trụ khủng khiếp mà trí óc con người không thể tưởng tượng được. Vụ nổ này được đặt tên là “Big Bang”. Sau vụ nổ hàng tỷ năm, khối được gọi là Trái đất nguội lại và từ đó, các sinh vật đơn bào và đa bào bắt đầu phát triển, tạo nên con người và các sinh vật. Lư thuyết này, cho đến hiện tại, vẫn chưa được toàn bộ các khoa học gia chấp nhận.

   a-Tự điển Webster’s New World: “big-bang-theory. A theory of cosmology holding that the expansion of the universe began with a giantic explosion (big bang) between 12 and 20 billion years ago.” Tạm dịch là: “một lư thuyết về vũ trụ học cho rằng sự dăn nỡ (bành trướng) của vũ trụ bắt đầu bằng một vụ nổ vĩ đại (big bang) vào khoảng 12 và 20 tỷ năm trước.” Tiếng “Bang” là một chữ tượng thanh, người đầu tiên chế ra chữ này đă dùng một thanh âm như một tiếng nổ để diễn tả lư thuyết của ḿnh. Tượng thanh là những chữ gợi ra âm thanh như “nổ đùng”, “lợn kêu eng éc”, “khóc ̣a”…Tiếng “bang” là âm thanh của một tiếng nổ, như trong bài hát “bang, bang, em bắn ngay tim  anh..bang bang…”

   b-Cuốn Physical Geology ấn hành trong các năm 1987, 1990, 1993, soạn bởi Carla W. Montgomery được dùng làm tài liệu giáo khoa cho sinh viên môn Địa chất Học tại Đại Học Cal State Fullerton, trang 165: “Most astronomers now accept a cataclysmic explosion, or “big bang,” as the origin of the modern universe.. At that time, enormous quantities of matter were synthesized and flung violently apart across an ever-larger volume of space.” Tạm dịch là: “Hiện nay, hầu hết các nhà thiên văn học chấp nhận một vụ nổ chấn động vĩ đại, hay “big-bang” như là nguyên thủy của vũ trụ hiện đại. Vào thời điểm đó, những số lượng khổng lồ của vật chất được tổng hợp và bắn tung ra một cách dữ dội băng qua một khối lượng lớn chưa từng có của không gian.”  Điều lưu ư trong đoạn sách giáo khoa này là chỉ nói đến “hầu hết các nhà thiên văn học” chứ không phải toàn bộ các khoa học gia về các môn khác như vật lư, hóa học, toán học.. và cũng không nói đây là Luật mà mọi người bắt buộc phải tin theo.  

   c-Theo người viết, lư thuyết này có quá nhiều “lỗ hổng”, nhất là sự đi ngược lại các định luật Toán học, Hóa Học,  và Sinh vật học.

-Yếu tố “A” nếu không cộng (hoặc trừ, nhân, hay chia) với “B”, sẽ không thể tạo thành “C”. Nếu không có chất xúc tác hay một tác động nào đó trên “A” th́ “A” vĩnh viễn là “A”. Một vật chất, sau khi được tạo ra, thí dụ như ḥn bi, nếu không có gió, không có lực đẩy, không có tác dụng của trọng lực, nghĩa là không nghiêng xuống, th́ vĩnh viễn sẽ nằm im tại chỗ mà nó được tạo ra.

-Không có sự việc ǵ xẩy ra mà không có nguyên nhân. Không có sự kết hợp nào tự nhiên mà thành. Trong muôn tỷ loại động vật, trừ một số rất ít lưỡng tính, luôn có giống cái và giống đực. Hai giống cái và đực tác động lên nhau, tạo thành thế hệ tiếp nối. Giống lưỡng tính th́ tự nó sinh sản, không cần giao hợp đực, cái, nhưng không phải v́ thế mà cho rằng: đó! thiên nhiên có sự sinh sản mà không cần kết hợp! Xin thưa, ngay trong các sinh vật lưỡng tính đó, các tế bào đă có “gene” có tính chất biến hóa thành đực và cái sẵn rồi. Số sinh vật lưỡng tính đó không nhiều và không đóng góp trong chu tŕnh tiến triển của sinh vật là bao. (Lá cây ban đêm thả carbonic, ban ngày nhả oxy để làm lợi cho loài người, con trùng này dọn rác của con trùng kia, ong hút mật và đồng thời làm “ông Mai” gây giống cho hoa...)  

-Về vụ nổ Big Bang: Nếu không có tác động, không có ng̣i nổ, không có va chạm, th́ không có vụ nổ.

-Về sự biến thái từ vật chất thành sinh vật: Không có chất xúc tác, không có tác động, vật chất muôn muôn vạn thế kỷ vẫn là vật chất, không thể tự biến thành sinh vật được. Một đơn bào, nếu “tự nhiên” mà xuất hiện, sẽ vĩnh viễn là đơn bào, không thể tự biến hóa thành một sinh vật có nhiều loại tế bào cấu tạo hoàn toàn khác nhau, và dứt khoát không thể tự biến thành một sinh vật hoàn hảo như con người, có trí óc và suy tưởng. Không ai có thể tưởng tượng được một cục đá nằm dưới chân ḿnh, một ngày nào đó, sẽ biến thành một con ếch hay con người.

-Nói đến suy tưởng, lại có một vấn đề nữa phát sinh: Vật chất nào tạo ra Tư Tưởng? Một vụ nổ trong không gian làm bắn đi hàng ngàn tỷ khối lượng vật chất, không thể nào tạo ra Tư Tưởng được. Mà Tư Tưởng th́ biến hóa khủng khiếp. Tư Tưởng tạo ra văn chương, văn hoá, khoa học, computer. Tác động chỉ đạo nào làm cho Tư Tưởng biến hóa, nhân, chia, trừ, cộng?

-Vậy, theo thiển ư người viết, “Big Bang” mới chỉ là cấp độ sơ khởi của một giả thuyết, chưa đủ tư cách là một lư thuyết.

    III-Thuyết Tiến Hóa:

    Darwin không phải là người đầu tiên phát minh ra thuyết Tiến Hóa. Ông đă dựa theo nhiều nhà khám phá trước như Paley , Lyell, và Malthus. Trong cuốn Darwin’s Metaphor, Chương III (Tài liệu giáo khoa của Cal State Fullerton, môn Khoa Học Tự Nhiên) Robert Young viết: “Đó là khi ông đọc Malthus vào năm 1838, ông đă bị xúc động bởi sự giải thích về thiên nhiên của Malthus vàø điều này đă làm củng cố thêm những ǵ ông đă thu thập được từ Lyell (người cũng dùng Malthus để giải thích những vấn nạn về sinh thái học và sự tuyệt chủng) và từ sự nghiên cứu về những súc vật đă được thuần hóa. V́ vậy, Paley và Malthus đă ảnh hưởng trên Darwin rất nhiều phương diện. Paley nhấn mạnh về sự hội nhập hoàn toàn; Malthus về sự mâu thuẫn. Ở một mức độ nào đó, một cách phản đề, Darwin đă tổng hợp chúng lại.” Ngoài ra, ông c̣n ảnh hưởng sâu xa bởi Lamarck, nguời đă chủ trương rằng những đặc tính tiến hóa trong các cơ phận có thể di truyền được, chưa kể đến một năm trước khi cuốn “On The Origin of Species”, ông đă cùng với Alfred Wallace tŕnh bầy chung với nhau về sự Chọn Lựa Tự Nhiên ở Luân Đôn. (Origin of species. British Musem. Cambridge University Press. 1981).   

  Cuốn "On the origin of Species", tập hợp những lư thuyết quan trọng nhất của Darwin, gồm có các chương: Sự biến đổi duới việc thuần hóa, Chiến đấu để sinh tồn, Chọn lựa Tự Nhiên, Luật Biến đổi và sự liên hệ phát triển, Những khó khăn trong vấn đề chuyển hóa, Bản năng hoặc quyền lực tinh thần của súc vật, Sự lai giống, sự bất toàn của các ghi chép về Địa chất, tính chất kế thừa của các cơ phận, sự phân phối địa chất trong không gian, sự sắp hạng hay sự kết giao (hôn phối) hỗ tương. Một cách vắn tắt, Lư Thuyết của Darwin gồm những điểm như sau:

  a-Tự tái tạo, tự di truyền (Self Replication/inheritance): Một số sinh vật có khả năng tự tái tạo ra các thế hệ kế tiếp và những bản phụ đó (copies) cũng có khả năng để tự di truyền.

 b-Sự biến dạng: Có những sự biến dạng từ vật thể này sang vật thể khác, hoặc biến dạng từng phần trong cơ thể một sinh vật.

  c- Sự chọn lựa: Đây là điểm quan trọng nhất. Darwin cho rằng sinh vật có thể chọn lựa để sinh tồn (survival/natural selection), hoặc chọn lựa v́ phối hợp chủng loại (sexual selection)

   Từ các chương này, thuyết Tiến Hóa cho rằng: Không có bàn tay Thượng Đế trong việc tạo ra vũ trụ, nhất là việc tạo ra các chủng loại mới. Con người cũng như các sinh vật khác là những  sản phẩm của sự tiến hóa từ các chủng loại trước. Khỉ và Loài người có cùng một ông Tổ,  ông Tổ này cũng là sản phẩm của việc tiến hóa từ các đơn bào. Thiên nhiên (các động vật và thực vật) hiện hữu đều trải qua một sự chiến đấu với môi trường (đất, không khí, thời tiết…) và với đồng loại để sống c̣n. Trong các cuộc tranh thắng, động vật  nào mạnh hơn và biết thích hợp với môi trường hơn sẽ tồn tại (natural selection). 

   IV- Vài mâu thuẫn nội tại trong thuyết Tiến hóa:

        a-Thuyết Tiến Hóa chưa giải thích được toàn bộ cấu trúc của Thiên nhiên.

     Ỏ đoạn chót của Lời Nói Đầu trong cuốn sách trên, Darwin viết: “Hơn nữa, Tôi đă được thuyết phục rằng Sự Lựa chọn Tự Nhiên là một phương tiện Chính yếu, nhưng không phải là phương tiện độc nhất của sự biến đổi!” (Furthermore, I am convinced that Natural Selection has been the main but not exlusive means of modification.) Tác giả đă mở ngỏ câu nói này, không giải thích thêm, v́ có lẽ ông cũng nhận thấy, ngoài những điều ông thu thập được, vẫn c̣n những bí ẫn mà tri thức ông không thể giải thích được.

  Trong một đoạn khác, ông đă viết một cách lộn xộn rằng không thể để cho một người nào khoe khoang một cách bệnh hoạn, nghĩ và duy tŕ rằng “con người có thể nghiên cứu quá xa hay quá kỹ từ cuốn sách gồm những lời của Thiên Chúa hoặc từ cuốn sách của những công việc Chúa làm, thần thánh hay triết học; nhưng hăy để mặc họ cố gắng trong một tiến tŕnh vô tận hay một sự thông thạo trong cả hai điều”. (that a man can search too far or be too well-studied in the book of God’s word, or in the book of God’s works; divinity or philosophy; but rather let men endeavor an endless progress or proficiency in both) (Kenneth R. Miller. Finding Darwin’s God. 1999. trang xii.) Nghĩa là chi? Thật khó hiểu. Một loại triết lư lưỡng lự, mà người ta có thể gọi là “ngụy biện” (logical fallacy), một loại “Non Sequitur” (không có điều theo sau).

   Năm 1844, ông ta cho rằng, qua việc tồn tại của những ǵ thích hợp nhất trong khi chiến đấu để sinh tồn, sự chọn lựa tự nhiên (natural selection) đă có thể thay đổi một cách căn bản số lượng thăng bằng giữa những sinh vật và thực vật cạnh tranh với nhau. Nhưng,  ông lại không bao giờ có thể giải thích được sự phát triển của những trạng thái bất định (variability) trong thiên nhiên, và sự biến đổi thuận tiện trong chốn hoang dă lại có thể làm cho những chủng loại lai giống tồn tại rất lâu. Ngoài ra, ông cũng không thể trả lời câu hỏi tại sao số lượng sinh trưởng trong thiên nhiên lại không thể nào sánh kịp số lượng vật nuôi trong nhà, là nơi mà súc vật không có sự chọn lựa. Hơn nữa, ông cũng bế tắc với sự thay đổi rất khác biệt về môi trường hóa học và vật lư để tạo ra những giống loại mới. (S. Toulmin và J. Goodfield. The Discovery of Time. Đại Học Chicago Press, 1965). Ông c̣n gặp trở ngại với động cơ của sự thay đổi và sự thừa kế cũng như về bào thai học.

        b-Không phải những sinh vật xuất hiện trước là cha đẻ của nhửng sinh vật sau:

   Cũng trong cuốn “On the origin of species”, chương XIV, Darwin đă viết: “We should not be able to recognise a species as the parent of any one or more species if we were to examine them ever so closely, unless we likewise possessed many of the intermediate links between their past or parent and present states; and these many links we could hardly ever expect to discover,  owing to the imperfection of the geolgical record.” Chính Darwin đă xác nhận là “chúng ta không thể nhận biết được cha mẹ của một chủng loại khi chúng ta phải nghiên cứu thật gần, trừ ra khi chúng ta có thể  sở hữu được sợi giây liên kết trực tiếp giữa cha mẹ chúng và  chủng loại hiện tại, mà những mối liên kết này, chúng ta không hy vọng ǵ khám phá được bởi v́ sự bất toàn của địa chất học.” Như vậy, cho dù có t́m được hàng trăm cái xương sọ khỉ có đặc tính như của loài người mà xuất hiện trước loài người hàng  ngàn năm, cũng chưa chắc con người là con cháu của khỉ. Huống chi những cái sọ khỉ mà người ta đă kiếm được lại cách xa những cái sọ người hàng trăm ngàn năm. Nh́n theo một khung kính gần, lư thuyết này cũng có tính chất “nhà quê”, lỗi thời, lạc hậu, y như thời đại cách đây gần trăm năm, thấy một phụ nữ ở một ḿnh trong nhà vài năm, rồi lại thấy một đứa trẻ, thế là vội vàng cho rằng bà mẹ này chửa hoang, và xúm lại đánh chết, mà không cần hỏi có phải là cháu bà, hay một đứa trẻ bỏ ngoài đường, bà mang về làm con nuôi hay không? Đây là mấu chốt của vấn đề: MỘT LỖ HỔNG KHÔNG THỂ LẤP ĐẦY!

      Để trả lời cho việc t́m thấy sọ khỉ và sọ người giống nhau và cách nhau vài trăm ngàn năm, người viết giả thiết rằng: có nhiều hệ truyền giống song song với nhau nhưng không bao giờ gặp nhau, một hệ Khỉ kéo dài hàng triệu năm, một hệ Người chừng vài trăm ngàn năm, hai hệ này có một số  đặc tính tương tự nhưng không giao thoa với nhau và không phải là truyền nhân của nhau.  Bằng chứng là cả vài chục ngàn năm nay, chưa có khám phá nào cho thấy những con khỉ có đột biến dần dần thành người như rụng bớt lông, như bập bẹ nói, như bỏ đặc tính leo trèo. Vài chục ngàn năm đối với vũ trụ th́ như hạt cát, nhưng với sự tiến hóa của loài người th́ là cả một con số thật lớn, vậy màtừ khi có lịch sử loài người, không thấy biến đổi ǵ. Ngoài ra, cũng c̣n có những hiện tượng giao cấu lộn giống giữa những sinh vật tương cận  như ngựa và lừa thành la, chó đuôi ngắn giao cấu với chó đuôi dài thành chó có đuôi vừa phải, người giao cấu với khỉ thành một con khỉ-người. Do đó mà có sự hoài nghi rằng, giả dụ có những sinh vật nửa người nửa khỉ, th́ cũng có thể là kết quả của một sự pha giống đột biến hiếm hoi trong một môi trường nào đó, một không – thời gian nào đó, mà không phải lúc nào cũng có thể thực hiện được. Năm 1967, khi c̣n đi học ở Texas, người viết có dịp đến thăm một cơ sở của Cảnh Sát, nơi chứa những tang vật của các vụ giết người. Trong số các tang vật lạ lùng, có một cái lọ thủy tinh lớn, trong đó có đựng một cái thai “người” gần đủ, với tay chân, mắt mũi. Viên quản thủ tang vật cho biết đó là một cái thai “khỉ”! Một con khỉ Hắc tinh tinh cái, cao gần 5 bộ, có thai, đi lạng quạng từ trong một khu rừng gần nơi ở của người ra ngoài đường, bị xe cán chết. Thấy con khỉ có thai to lớn, các viên chức mới mổ bụng ra, lấy cái thai ra ngoài, và hết sức ngạc nhiên khi đó là một thai người! Giả thuyết cho rằng đó là kết quả giao hợp của một nông dân nào sống gần đó, với con khỉ cái hay vào nhà ông ta... Các bác sĩ phụ khoa đều xác nhận rằng đó là một phiên bản của một “bé trai” đă chín tháng!

   c-Lư thuyết không đầy đủ: Như đă giới thiệu ở trên, Richard Milton cho rằng với những khám phá mới, việc yếu tố di truyền thay đổi gây ra bởi sự Lựa chọn Tự nhiên rất giới hạn. Bằng những phương pháp định tuổi trái đất mới mẻ, các khoa học gia chứng minh rằng, cho dù không cần tác động để biến hóa, với sự biến đổi chậm chạp của sinh vật, tuổi của trái đất không đủ thời gian để cho một đơn bào tiến hóa thành một cơ phận đa bào phức tạp. Ông cũng khám phá ra một yếu tố ngăn trở (embarrassing fact) càng ngày càng  làm cho thuyết Darwin rất khó mà bỏ qua, đó là những mắt xích thiếu sót (missing links) trong mỗi hệ tiến hóa của những chủng loại. Cũng không có những chủng loại giao thoa nào được t́m thấy chứng minh rằng sự tiến hóa đă được tiến hành. Dựa trên những chứng cớ khoa học, Richard Milton đă khẳng định rằng lư thuyết tiến hóa đă trở thành một niềm tin hơn là một khoa học đầy đủ. (Sách đă dẫn. Trang b́a).

   Trên đây chỉ là một vài nhận xét thô thiển về sự thiếu sót của Darwin cũng như của thuyết Big Bang, được viết ra để trả lời cho những người Cộng Sản Việt Nam, vẫn hàng kính ngưỡng thuyết Tiến Hóa của Darwin một cách mù quáng. Từ đó, t́m mọi phương tiện tiêu diệt mọi tôn giáo, và cho rằng “tôn giáo là thuốc phiện, ru ngủ nhân loại.” Mong rằng những kẻ Cộng Sản đọc bài viết này sẽ thức tỉnh, và trả lại quyền Tự Do Tín Ngưỡng cho mọi người dân Việt yêu dấu.

 

                                                                                    Chu Tất Tiến.