Vài hàng gửi “Đại Ca” Nguyễn Thụy Long.

                                                          Chu tất Tiến

Thật rất khó để t́m được một danh xưng thích hợp khi phải gửi vài lời thô thiển đến một nhà văn nổi tiếng như Nguyễn Thụy Long, một tác giả mà tôi vẫn ngưỡng mộ từ những năm mà tuổi thanh niên của tôi quay cuồng trong các cơn băo thời loạn, những chuyển biến chính trị sôi động, và sự ngược đăi của cuộc đời trên chính bản thân tôi. Hồi đó, tôi mê mải đọc những tập truyện có tính thời sự, mạnh bạo nhưng không kém phần chua chát của ông. Tôi thích giọng văn đầy “du đăng tính” ấy, mê những khung cảnh nháp nhúa, phía sau những ṭa nhà tráng lệ, nơi mà con người sống thực rất “con người”, nghĩa là không tô son điểm phấn, “có sao nói vậy, người ơi”. Đọc truyện của ông, tôi không thể dừng được giữa chừng, mặc dù đói, buồn ngủ, hay mệt, v́ những nhân vật trong truyện của ông gần gũi với tôi quá, tưởng chỉ giơ tay ra ngoài trang sách, là có thể bắt tay được một người nào đó, một tay anh chị, “cao bồi, lựu đạn” hay một thiếu nữ hiền lành, ông già trệu trạo hay chú Ba đầu ngơ. Bởi v́ thời gian đó, tôi cũng là một thành phần bị bỏ rơi, đứng ngoài lề xă hội, cũng đói, cũng rách, cũng bất cần đời, cũng quẩn quanh với mấy cô gái ăn sương, mấy thằng bạn du đăng. Tiếng “xực tắc” buổi tối làm tôi chẩy nước bọt, làn khói bốc lên từ đĩa bánh cuốn nóng Viễn Đông làm tôi lảo đảo, mùi phở đầu đường Pasteur khiến chân tôi run rẩy. Sách vở lúc ấy là đồ xa xỉ, học đường là giấc mơ, thầy giáo là những thiên thần đă trốn về Thiên Đường hết, bỏ lại tôi chơ vơ trên trần thế với bạo lực, sa đọa, lừa gạt, đĩ điếm, và lưu manh. Như thế, tôi mê văn của Nguyễn Thụy Long, của Duyên Anh, của Lê Tất Điều, và Nhật Tiến. Văn chương của họ như những ánh sao rơi, từ trên trời cao, xẹt vào hồn tôi, đánh thức những giấc mơ thơ ấu, cho tôi can đảm để chiến đấu với sự thật phũ phàng, với ḷng yếu đuối chỉ muốn nằm lăn ra bên cạnh các cô gái trụy lạc, hít vài hơi bạch phiến, để quên hết cuộc đời đen bạc.

V́ thế, viết thư này, tôi mạo muội gọi ông là “đại ca”, như một người đàn anh trong lănh vực văn chương và đàn anh cả trong cuộc sống. Văn của ông đă tạo cho tôi một niềm ấm áp, làm cho tôi bớt cô đơn, tịch mịch, quên đi tiếng thở dài mỗi buổi chiều, tôi nhớ mẹ.

Nhưng, ngày hôm nay, hơn 40 năm sau, đọc lại truyện của ông, trong một tâm t́nh khác hẳn, già cỗi hơn, chiêm nghiệm hơn, tôi thấy có điều ǵ chua xót trong văn chương của ông, khiến cho những h́nh ảnh trong ấy bị xoắn vặn đi, những nhân vật trong truyện của ông cũng không được b́nh thường lắm, như ngày xưa tôi vẫn tưởng. Có lẽ “đại ca” đă viết bằng một tâm thức quá nhậy cảm, buồn chán, nên đôi khi sự việc trong đó đă biến dạng, thiếu chất khách quan, không những không rơ ràng mà lại c̣n tạo nên ấn tượng sai lạc cho các thế hệ sau, nếu họ không có phương tiện t́m hiểu kỹ thời sự lúc bấy giờ.

Những năm đầu thập niên 60, tuy tôi lang thang, rách rưới, nhưng vẫn đủ linh mẫn để thấy rằng đời sống người dân vẫn dễ chịu, tự do, thoải mái. Những biến động chính trị ồn ào, hiện tượng bắt buộc phải có trong mọi nước Tự Do, đều do các tay phù thủy chính trị dựng nên. Họ là ai, tôi không thể biết, nhưng chỉ biết họ luồn lách chỗ này, chỗ nọ, phao tin đồn nhảm, khích động ḷng người, nhất là kích thích nhiệt huyết của thanh niên, thiếu nữ. Tôi đă từng đứng xem các buổi họp sinh viên, thanh niên được tổ chức đây đó, và nghe được những lời lẽ hoàn toàn mang tính chất tuyên truyền. Có những ông trung niên đến vỗ vai tôi: “Sao? Anh hùng không? Xuống đường chứ hả? Thanh niên đâu chịu hèn nhát?” Có những chị sinh viên áo trắng, một tay xắn lưng quần cho gọn, một tay giơ lên: “đả đảo bọn gia đ́nh trị!” Trong những buổi họp Sinh Viên, Học sinh Công giáo hay Phật Tử, người ta thấy những tay hùng biện kêu gọi phải bảo vệ Đạo Pháp đang bị lâm nguy. Ngoài các sinh hoạt chính trị và tôn giáo đó ra, cuộc sống người dân vẫn đều đặn, thong thả. Những sinh viên, học sinh không có khuynh hướng chính trị hay tôn giáo vẫn tiếp tục việc học của ḿnh. Công chức, nhân viên, thợ thuyền... vẫn sống đời thoải mái trong một chế độ dân chủ pháp trị. Các đô thị vẫn mở mang, phát triển. Đi từ Saig̣n ra miền Tây, hay miền Trung, vẫn thấy đất nước và con người sinh hoạt vui vẻ vui vẻ và đầm ấm.

Tuy nhiên, đọc “Hồi ức 40 năm làm báo” của ông, đăng trên nhật báo mới đây, tôi thấy xă hội mà ông mô tả có phần kinh hoảng. Sau khi ông điều chế ra một câu chuyện tiếu lâm để diễu cợt vị Tổng Thống đầu tiên của nước ta, đi kinh lư qua Ngă ba Chú Ía, thấy một lô “chị em ta” ra đón đường, mời vào “động” th́ vị Tổng Thống ngớ ngẩn đó, qua vị “quan bí thư”, lại tưởng là nhân dân đón chào “ngài vi hành thăm dân cho biết sự t́nh!”.

Ông viết: “Câu chuyện tiếu lâm này có từ thời đó, người ta nói đi nói lại hoài, cho đến sau giải phóng vẫn c̣n nói lại nữa, có tính cách khôi hài, nói lên sự thối nát của một chế độ.” 

Thực t́nh, đọc đoạn văn này, tôi không tưởng tượng nổi, đă có một thời, tôi ngưỡng mộ văn chương của ông cùng cực. Văn phong của ông bây giờ là loại chơi chữ rẻ tiền, chỉ có ở những quán cóc, “cà phê - xây chừng”, “bánh ḿ xí mại” chứ không thể là một đại diện cho văn học. Tổng Thống mà “ngu” đến thế th́ không cần ai xử bắn, cũng có ngày phải tự làm cho ḿnh chết v́ uống thuốc quá liều, hay chết v́ bội thực. Ông c̣n chứng tỏ sự thiếu lư luận, thiếu trung thực của ḿnh khi viết rằng câu chuyện tiếu lâm ngớ ngẫn đó, được truyền tụng suốt từ thập niên 60 cho đến sau “giải phóng” (nguyên văn), nghĩa là từ 15 năm trở lên.

Lời tố cáo chế độ của ông cũng không tuân theo một hệ thống lư luận nào, chỉ là những tiếng vu vơ, ầu ơ dí dầu, theo kiểu mấy “chị em ta”, mấy tay du đăng rẻ tiền, ruợu vào lời ra thường xuất hiện trong truyện của ông. Ông nói “sự thối nát của một chế độ”, mà không dẫn chứng thối nát như thế nào. Liệu có thối nát bằng chế độ Cộng Sản hiện thời không? Dĩ nhiên, ông cũng nói qua vài hiện tượng mà ông gọi là thối nát chẳng hạn như chuyện một ông Tướng chết v́ thượng mă phong, chuyện vũ nữ Cẩm Nhung bị vợ Trung Tá Thức thuê người tạt át xít…. (Khi tả con người bất hạnh Cẩm Nhung, ông dùng chữ thiếu khách quan: “nhan sắc một con ác quỷ nổi điên, thỉnh thoảng ngứa nghề lại khiêu vũ một ḿnh...” Người ta đă đau lắm rồi, ông ạ!)

Sau đó, ông lên án “Đất nước miền Nam chán mứa, các tệ nạn xă hội tràn lan, mua quan bán chức, lưu manh lộng hành. Báo chí bị kiểm duyệt khắt khe, quyền thứ tư bị xâm phạm nghiêm trọng, nhà nước muốn biến báo chí thành gia nô tuyên truyền làm tay sai cho chính thể, một chính thể quá tồi tệ, muốn biến kư giả thành đám bồi bút. Những nhà tù mọc lên khắp nơi gọi là trung tâm cải huấn. Nhiều nhà văn, nhà báo bị bỏ tù. Một lực lượng đàn áp của nhà nước kinh khủng là đám Mật Vụ, nói đến mật vụ, mọi người dân đều chết khiếp v́ sự tàn bạo của bọn chúng.”

Ông đang tố khổ chế độ nào vậy, thưa “đại ca” Nguyễn Thụy Long? Nếu cứ đọc đoạn văn này, th́ giới trẻ sau này sẽ hiểu về chế độ cũ của ḿnh ra sao? Không nói đến kết luận của ông về số mạng đau đớn của Tổng Thống Diệm, v́ có thể đó chỉ là những tư tưởng bất măn, căm thù của một kẻ không được đời sủng ái, mà chỉ nói đến những sự “chết khiếp” của dân chúng thời đó, người đọc có cảm giác như ông đang viết theo đơn đặt hàng của chế độ mới, phải không, thưa “đại ca”?

Thực tế, tuy tôi không biết tuổi tác của ông, nhưng đoán chừng ông cũng trên dưới tôi đôi chút. Tôi cũng bắt đầu việc viết (mà không lách) từ 1968, nghĩa là cũng 40 năm. Có nghĩa là ông và tôi sống cùng thời đại, cùng đam mê, cùng bất măn, chán chường, nhưng ông có tài hơn tôi và may mắn hơn tôi. Tôi chỉ là kẻ viết quèn cho mấy tờ quân đội, và một tờ báo dân sự. Tôi đổi tên hiệu hoài hoài, truyện và xă luận của tôi ch́m nghỉm trong những áng văn chương tuyệt tác của các “đại ca”, những người đă có sách, và truyện được quay thành phim ảnh ăn khách.Tôi chỉ là một cái giếng cạn, các ông th́ như biển cả. Túi của các ông rủng rỉnh “xu hào”, các ông ăn chơi, trà đ́nh tửu quán, vẫy tay một cái th́ vài em chạy tới, có ông c̣n hút sách cho ra vẻ nhà văn. C̣n tôi, lủi thủi nhận mấy đồng nhuận bút chỉ đủ đi xem xinê và làm một chầu bánh cuốn nóng. Nhưng tôi nh́n thấy xă hội ngày đó không đến nỗi nào phải bị tố khổ kinh khiếp như vậy.

Tham nhũng, dĩ nhiên, xă hội nào chẳng có, nhưng với xă hội tự do, ai thích qua mặt người khác cho lẹ, ai thích hưởng thụ nhiều hơn, th́ chấp nhận luật chơi tham nhũng, c̣n không, th́ đường ta, ta đi, chẳng ai ép buộc. Ngược lại, trong xă hội Cộng Sản, tham nhũng đè đầu cưỡi cổ người dân, bóp hầu, moi họng bà con, không nộp tiền th́ phải chết dấp. Muốn sống yên thân với cọng rau, con gà, con vịt cũng không được. Từ khi sinh ra, đi học, đi làm, cưới vợ, lấy chồng, đẻ con, rồi chết.. đều có mặt công an và tham nhũng trấn lột. Làm một tờ khai sinh cũng phải nộp tiền, đến khi chết, cũng không được yên thân, nếu không có tiền phong bao cho công an. “Ông không cho chôn, th́ mày chết cũng không nhắm mắt” Luật lệ, hiến pháp viết ra để bảo vệ cho quyền lợi của Đảng, không phải cho dân. “Luật ở miệng Tao!” Nếu nh́n vào hiện tại như thế, th́ chế độ Việt Nam Cộng Ḥa ngày xưa khác xa một trời một vực, phải không, thưa nhà văn?

Đọc tựa đề cuốn sách, những tưởng 40 năm sau, ông viết lại một trang thời sự cho hậu thế hiểu thêm về đất nước con người, ai ngờ ông vặn xoắn ng̣i bút, bôi lọ văn chương, châm biếm lịch sử, vẽ ra một bức tranh vân cẩu. Thưa người mà tôi từng ngưỡng mộ, tôi rất buồn và chán nản cho chính tôi, đă nh́n lầm đối tượng.

Viết những hàng chữ này, trước là để xóa bỏ một thần tượng, sau nữa, với chút t́nh văn chương, mong ông suy nghĩ lại, bảo vệ chỗ đứng của ḿnh trong văn học Việt Nam, kẻo uổng công bao năm mài miệt viết lách. 40 năm cầm bút đă quá nhiều cho một con người, nếu mất đi, không thể nào lấy lại được, dù có thêm một kiếp sau.

 

Một người viết (mà không biết lách.)

Chu tất Tiến.