LỜI TRẦN T̀NH CUỐI CÙNG CỦA CHU TẤT TIẾN VỀ VẤN ĐỀ "SƠN TÙNG."

 

Thưa quư vị,

 

Thật rất tiếc v́ bài nhận định ngắn ngủi của tôi, được viết trong một lúc xúc động, lại biến thành một âm mưu nhằm "phá sập Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại"; cá nhân tôi lại trở thành "âm binh của một tên phù thủy núp trong bóng tối" như lời giải thích của Sơn Tùng, trong bài "Những Âm Binh Thời Đại" được chuyển đến tôi, ngày 6 tháng 11 năm 2008.

 

Một lần nữa, v́ đă lỡ đặt chân vào "ṿng chiến", không thể rút lui, tôi xin được phép thưa cùng quư vị vài điểm quan trọng:

 

-Không có âm mưu nhằm phá sập Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại: Cá nhân tôi rất tôn trọng các huynh trưởng, nhất là những vị tiền nhiệm của Văn Bút, là những Nhà Văn, Nhà Báo, hay Thi Sĩ đă đem lại một nền văn hóa phong phú cho dân tộc. Tôi hănh diện là một người Việt Nam và cũng hănh diện v́ đất nuớc đă sản sinh những nhân tài về phương diện văn hóa như thế. Do đó, khi thấy Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại c̣n tồn tại trên diễn đàn quốc tế, tôi rất vui mừng và âm thầm cám ơn những người vẫn tiếp tục hy sinh và tranh đấu cho một Việt Nam Tự Do - Dân Chủ. V́ vậy, tôi minh định rằng "âm mưu phá sập Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại" chỉ là một vơ đoán nhất thời. Hơn nữa, về phương diện lư luận, điều này hoàn toàn là không thể thực hiện, v́ nếu tôi là một kẻ muốn chống lại Văn Bút - một tổ chức của những người Việt Tự Do, tôi phải là một người tán trợ Cộng Sản. Nếu tôi là người tán trợ Cộng Sản, tôi lại không thể căm thù Hồ Chí Minh, và không thể chống lại những người đề cao Hồ Chí Minh, như tôi đă tŕnh bầy trong bài viết trước. Chân t́nh, tôi mong Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại phát triển măi măi để tiếng nói người Việt Tự Do được vang vọng khắp nơi.

 

-Không phải là một âm binh của một tên phù thủy núp trong bóng tối: Nếu đă không phải là người tán trợ Cộng Sản, th́ cũng không ai giật dây, chỉ đạo cho bài nhận định của tôi. Bài tự -tán - dương ḿnh và cũng khéo léo tán dương Hồ Chí Minh của Sơn Tùng đă làm tôi mất tự chủ. Tôi không kềm được sự thúc giục ḿnh phải viết ngay vài hàng phân tích những quan điểm lập lờ của Sơn Tùng, mong rằng ông ta, với sự tự trọng, sẽ nhận khuyết điểm của ḿnh và tự sửa chữa. Nhưng lại rất tiếc, trong hai bài kế tiếp, Sơn Tùng vẫn giữ nguyên lư luận của ḿnh, hoàn toàn phủ nhận mọi phê b́nh, đồng thời chụp mũ cho tôi là "âm binh, phù thủy", muốn phá sập Văn Bút, theo lệnh của ai đó. V́ vậy, một lần chót, xin tŕnh bầy thêm những luận điệu giả trá của Sơn Tùng qua chính những lời văn của Sơn Tùng:

 

1-Trong 1354 chữ của bài tham luận:

   -Về Châu Âu, Á Châu : 327 chữ.

   -Về quan hệ giữa Pháp và Việt Nam: 358 chữ.

   -Về nạn độc tài Cộng Sản: 273 chữ

   -Về Văn Bút, nói chung: 58 chữ

   -Về Hồ Chí Minh: 338 chữ.

 

Điều đáng nói, là trong một buổi hội thảo quốc tế về "Pen", lại chỉ được Sơn Tùng đề cập đến có 58 chữ. Không có tŕnh bầy về hoạt động của Vietnam Pen. Trong khi đó, với 338 chữ về Hồ Chí Minh, không có một chữ nào phê phán Hồ Chí Minh là kẻ phản bội dân tộc cả, chỉ có một câu "more than 80 million Vietnamese are swallowing bitter fruits from a tree sowed by Ho Chi Minh who brought the seed from Paris" (Hơn 80 triệu dân Việt đang nuốt trái đắng của cái cây gieo trồng bởi Hồ Chí Minh là người đă mang hột từ Paris về.). Nhưng để chuẩn bị cho việc giới thiệu Hồ chí Minh, Sơn Tùng đă mào đầu về những nhà ái quốc chống lại thực dân Pháp:

 

"Ironically, it was the same French colonial rulers that blatantly suppressed the uprisings of Vietnamese trying to free their country. Many patriots were imprisoned, deported, and executed, but the resistance rarely ceased, even when French colonial development in Vietnam reached its zenith in the early 20th century." (Mỉa mai thay, chính những kẻ cai trị thực dân Pháp đă đàn áp một cách trắng trợn sự nổi dậy của người Việt Nam cố gắng giải phóng cho đất nước của họ. Nhiều nhà ái quốc bị cầm tù, trục xuất, và hành h́nh, nhưng sự chống đối ít khi ngừng lại, ngay cả khi sự phát triển thuộc địa của người Pháp đạt tới đỉnh cao trong khoảng đầu thế kỷ 20.)

 

Sau đó, Sơn Tùng nhập đề: "Several young Vietnamese went to France where they studied science, technology, philosophy, political economy, etc, or sought a way to free Vietnam from the yoke of colonial rulers. Among them was Nguyen Tat Thanh, who later took a pseudonym as Nguyen Ai Quoc." (Một số người trẻ Việt Nam đến Pháp để nghiên cứu về khoa học, kỹ thuật, triết lư, kinh tế chính trị, vân vân, hoặc đi t́m phương cách cứu Việt Nam ra khỏi ách thuộc địa. Trong số ấy có Nguyễn Tất Thành, là người sau này lấy biệt hiệu là Nguyễn Ái Quốc.)

 

Sau đó là chuỗi dài về tiểu sử Hồ Chí Minh, từ lúc họ Hồ đi du lịch qua Pháp vào năm 1911 như là một người "janitor" (làm vệ sinh và gác cửa?), đến khi trở thành "founding member of the French Communist Party in 1920" (cha đẻ của Đảng Cộng Sản Pháp vào năm 1920?)

 

Sơn Tùng cũng dùng nhiều lời bóng bẩy để chỉ Hồ Chí Minh như dùng chữ "liberators" cho họ Hồ và đồng chí của hắn. Ngoài ra, c̣n tặng ngôi vị "duy ngă độc tôn" cho họ Hồ khi nói rằng sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hồ chí Minh đă được "phần thưởng" là sự cai trị trên miền Bắc Việt Nam vào năm 1954 (After the victory at Dien Bien Phu, Ho Chi Minh was rewarded sovereignty over North Vietnam by the Geneva conference in 1954.)  Ngoài ra Sơn Tùng c̣n nâng họ Hồ lên một bậc gần giống như "cha già dân tộc" mà cán bộ Cộng Sản vẫn thường gọi, nhưng bằng một danh xưng khác là Lănh Tụ Vĩ Đại Các Người Theo Chủ Nghĩa Quốc Gia (a great nationalist leader.) Mặc dù Sơn Tùng đă che dấu ư kiến riêng của ḿnh,  mà chỉ nói rằng đó là quan điểm của Tây Phương, Sơn Tùng đă không biện luận ǵ để chống lại quan điểm đó. Sơn Tùng chỉ phủ nhận điều này sau khi mà Bắc Việt đă ngang nhiên vi phạm hiệp định Paris 1973 mà thôi. (This myth was demolished only after the North Vietnamese Communists blatantly violated the Paris 1973 cease-fire agreement.) Điều này có nghĩa là, nếu miền Bắc không vi phạm Hiệp Định Paris, th́ Hồ Chí Minh vẫn là Cha Già Dân Tộc cho đến khi  lịch sử nhân loại chấm dứt.

 

Với những bằng chứng hiển nhiên đó mà Sơn Tùng vẫn "căi chầy, căi cối" th́ thật đă không c̣n chút tự trọng, xấu hổ nào.

 

2-Trong một cuộc hội thảo quốc tế về Văn Bút và những hoạt động của các Hội Viên Văn Bút trên toàn thế giới, Sơn Tùng đă đơn thân, độc mă nói về một câu chuyện chẳng liên can ǵ đến ư nghĩa cuộc hội thảo. Dưới đầu đề thật vĩ đại "Ánh Sáng Paris, Nước Mắt Saig̣n", tác giả lại kể lể về những liên hệ Âu Châu, Pháp, Việt Minh, Hồ Chí Minh, rồi Việt Nam... Không thấy "nước mắt Sàigon" tuôn chẩy ra sao. Cũng không thấy nói chi đến hoạt động của Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, trước đây, hiện nay, và dự phóng về tương lai. Không có cái "chuông" nào được đem ra đánh cho xứ người nghe. Hoàn toàn không thấy nói về những nhu cầu cần cảm thông và trợ giúp của Văn Bút Quốc Tế  với những người cầm bút ở trong nước, đang bị đàn áp, trù dập. Như thế, bài tham luận của giới cầm bút Việt Nam Hải Ngoại, đối với mục tiêu của cuộc hội thảo, là một bài "lăng xẹt", giữa chốn văn chương, nói chuyện chính trị; giữa thế giới Tự Do, ca ngợi một tên đồ tể Cộng Sản. "Nước mắt Sàigon" chưa kịp chẩy ra đă bị nghẹn ...

 

3-Thực sự, Sơn Tùng là một tác giả mà cá nhân tôi hằng ngưỡng mộ từ nhiều năm nay. Nhiều bài báo của ông trước đây có giá trị sâu sắc, cần được phổ biến cho thế hệ sau này hiểu rơ hơn về con người và đất nước Việt Nam. Tôi vẫn mến phục Sơn Tùng, và chỉ ngưng kính trọng sau khi thấy ông tham gia vào "trận đánh trong nội bộ Văn Bút". Đến bản tham luận này, và các phản bác liên tục của chính tác giả, Sơn Tùng đă hoàn toàn đánh mất sự kính trọng của những người như chúng tôi, và c̣n ngược lại, đă tạo ra sự ớn lạnh, khi một người đánh mất giá trị của chính ḿnh để ca tụng cho một cá nhân đáng khinh bỉ. Cũng từ bài nhận định này, mà một chiến hữu niên trưởng đă tŕnh làng cho thấy một Sơn-Tùng-đáng-kính-trọng đă đi vào ngơ hẻm tối thui của lịch sử khi ông từng viết những ḍng chữ này trong một dịp khác:

 

..."It was a product of his brother and himself as they imitated the semi-automatic guns carried by American soldiers when they paraded on the streets of Hanoi after the Japanese surrendered." (Đó là một sản phẩm mà hai anh em hắn bắt chước những khẩu súng tự động mà lính Mỹ đă đeo khi họ đi diễn hành trên đuờng phố Hà Nội sau khi người Nhật đầu hàng.) ..... "He also recalls the day when Allied troops paraded through the streets of Hanoi after the Japanese had surrendered. He was in the crowd on the sidewalk, holding his father's hand and watching tall American soldiers in green uniforms marching with sub-machine guns in hand." (Hắn cũng nhớ lại ngày tháng mà đội quân Đồng Minh đi diễn hành xuyên qua đường phố Hà Nội sau khi người Nhật đầu hàng. Hắn ở lẫn trong đám đông, trên lề đường, nắm tay ông bố và ngắm những người lính Mỹ cao kều trong quân phục xanh đi diễn hành với những khẩu súng bán liên thanh trên tay.).

Câu phỏng dịch này xin được dùng làm lời kết cho bản trần t́nh cuối cùng của tôi. Xin quư vị nào đă từng chứng kiến lính Mỹ mặc quân phục xanh, cầm súng liên thanh, đi diễn hành trên đường phố Hà Nội, ngay sau khi Nhật đầu hàng, th́ mong tiếp tay với Sơn Tùng phổ biến tài liệu lịch sử này.

 

Thành thực xin lỗi quư vị, nếu những lời "trung ngôn" này có chút "nghịch nhĩ." Và cũng rất chân thành mong được một lần thấy Sơn Tùng - tác giả nhiều bài viết giá trị, người tôi hằng ngưỡng mộ - nhận thức được  sai lầm của ḿnh để trở về với ḍng sống dân tộc cũng như tiếp tục duy tŕ vị trí của ḿnh trên diễn đàn văn học Việt Nam. 

 

Chu tất Tiến.

 

Tái bút: Xin cám ơn Niên trưởng Nguyễn Hùng đă gửi cho những câu trích đăng trên.

 

_______________________________

 

NHỮNG ÂM BINH THỜI ĐẠI

Sơn Tùng


Đọc một bài tấn công và phỉ báng tôi trên Internet, một người quen với tác giả bài ấy nói với tôi:

 

- Tôi thất vọng và buồn quá. Tôi phải cố đọc cho hết v́ muốn biết anh ta chửi ông cái ǵ. Tôi không ngờ hắn có thể tầm thường đến như vậy. Tôi có cảm tưởng hắn có mối thù truyền kiếp với ông.

 

Tôi cười đáp:

- Tôi chẳng biết ông này là ai, nói ǵ tới thù với oán.

 

Người bạn tôi, một nhà báo, trầm ngâm:

 

- Buồn thật. Tôi thông cảm với ông. Tôi biết những kẻ đang chửi ông trên Internet không phải v́ thù oán hay tranh giành cái ǵ với ông. Mục đích thực sự của những kẻ này là phá sập Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại. Và họ chỉ là những âm binh của một tên phù thủy núp trong bóng tối. Và họ cũng nhân danh chống cộng. Ghê gớm thật!

 

Bạn tôi đă nh́n thấy vấn đề. Hầu hết hội viên VBVNHN đă nh́n thấy vấn đề. Chuyện này không mới mẻ. Nó đă khởi đầu từ hơn mười năm trước và đă đẩy VBVNHN vào nhiều cơn sóng gió mà c̣n đứng được tới ngày nay là nhờ sự sáng suốt và vững ḷng của đa số hội viên Văn Bút.

 

Cơn sóng gió hiện nay cũng chỉ là tái diễn những ǵ trong quá khứ với vài âm binh mới. Ngoài này, họ xuyên tạc, tấn công, phỉ báng những người có thiện chí trong VBVNHN, cùng lúc với đám văn nô ở trong nước ra sức viết bài bịa đặt và vu khống VBVNHN.

 

Mục tiêu của cuộc đánh phá hiện nay là bài tham luận "Lights of Paris, Tears of Saigon" của tôi tại cuộc Hội thảo của Văn Bút Quốc Tế ở Bled vào cuối tháng 3 vừa qua - một bản cáo trạng đanh thép và sâu sắc dành cho chủ nghĩa cộng sản.

 

Bài ấy là tiếng nói của Sự thật, của Lương tâm và Chính nghĩa Việt Nam trên diễn đàn quốc tế, và đă được đánh giá cao ở trong cũng như ở ngoài Văn Bút. Nó cũng đă tạo tiếng vang không ngờ, thật cảm động. Một nhà báo đáng kính kể với tôi rằng ba tuần lễ sau cuộc Hội thảo ở Bled, ông đă cùng một đoàn du lịch – trong đó có nhiều người Việt Nam – ghé lại thành phố nên thơ ấy và ông đă nói cho mọi người biết rằng tại đây vừa diễn ra một cuộc hội thảo quốc tế và tôi đă tham dự để lên án cộng sản và đ̣i hỏi tư do nhân quyền cho Việt Nam. Tất cả đă vỗ tay và vài người muốn có bài tham luận ấy để đọc.

 

Cùng lúc đó, bài ấy đă bị vài kẻ moi móc ra mấy chữ để xuyên tạc, bóp méo và tung lên thế giới ảo của các diễn đàn trên Internet để sách động "chống Sơn Tùng(!?). Nhưng, mấy người ấy đă chỉ tự bôi đen, hay bôi đỏ, lên mặt họ – nếu c̣n chỗ để bôi, và không gây ảnh hưởng nào đến hội viên VBVNHN. Lời lên tiếng dưới đây của Đại tá Nguyễn Quốc Quỳnh, nguyên Chỉ huy trưởng Trường Đại học Chiến tranh Chính trị VNCH, là một bằng chứng:

 

"Rất cảm phục và tán đồng giải đáp thắc mắc Chủ tịch VBVNHN Sơn Tùng đă gửi đến nội bộ. Tôi đă đọc kỹ "Ánh sáng Paris, Nước mắt Sài-g̣n", không thấy câu chữ nào ca tụng HCM, chỉ có những câu lên án. Bọn vu cáo, ác ư sử dụng con dao vạn lưỡi Internet viết ǵ ai cấm. Tôi cũng đă đọc những bản thông tin mập mờ xuyên tạc, hoặc tự phong VBVNHN. Xin được b́nh yên và có thái độ lịch sự như Ô. Sơn Tùng."

Thái độ b́nh thản khinh bỉ của hội viên VBVNHN đối với đám âm binh ấy đủ cho thấy sự thật ở đâu và chính nghĩa ở đâu. Nhưng sự phá hoại của họ cũng đă phun nọc độc vào một số người đọc Internet và làm VBQT có cái nh́n sai lầm về người cầm bút Việt Nam qua những bài viết bịa đặt thấp kém và gây rối. Đám âm binh ấy có phá tan được VBVNHN hay không, thời gian sẽ trả lời. Nhưng, sự thật sẽ măi măi là sự thật, và mặt thật của những người này sẽ bị lột trần với đầy đủ tài liệu, bằng chứng.

 

Để người đọc có cái nh́n chính xác về những ǵ đă diễn ra tại cuộc Hội thảo ở Bled, tôi xin kèm dưới một bài viết đă đăng trên Tạp chí

Tân Văn số 10 ngày 01.5.2008 và trên vài báo khác.

 

Sơn Tùng

10.6.2008
 

-----------------------------
CÁI ĐỂ LẠI

VÀ NHỮNG CÁI MANG VỀ TỪ BLED

Sơn Tùng

 

Hỏi mười người th́ chín người không biết Bled ở đâu, kể cả người bán vé máy bay.

 

Bảo Bled là một thành phố của Slovenia th́ nhiều người nói Slovenia là một phần của Tiệp Khắc tách ra. Người ta đă lầm Slovenia với Slovakia.

Slovenia tách ra khỏi Nam Tư sau khi khối Cộng sản Đông Âu sụp đổ vào cuối thập niên 1980 và tuyên bố độc lập năm 1991 sau một cuộc nổ súng ngắn mười ngày, không kéo dài cảnh bắn giết đẫm máu khi ly khai như tại Bosnia, Croatia và Kosovo. Có lẽ v́ vậy mà ít người biết tới Slovenia. Cần phải có nhiều xác chết và nhiều đổ nát trên màn ảnh truyền h́nh và trên mặt báo năm này sang năm khác cùng với những tội ác ghê tởm của chiến tranh để được thế giới biết tới.

 

Slovenia rất thanh b́nh và trầm lặng, nằm phía dưới nước Áo, ở giữa Hung và Ư, rộng gần bằng diện tích Tiểu bang New Jersey của Hoa Kỳ, dân số chưa tới hai triệu. Và đó là nơi chúng tôi đă tới tham dự cuộc hội thảo "Nhà văn v́ Ḥa B́nh" (Writers for Peace) kỳ thứ 40 do Văn Bút Quốc Tế tổ chức từ 26 đến 30 tháng 3. 2008 với chủ đề khá hay và phong phú: "Ư thức Âu Châu" (What is European Consciousness?) và "Đạo tắc trong Lịch sử" (An Ethical Attitude to History as a Source of Peace).

 

Đề tài được tôi chọn là mối liên hệ cay đắng, bi thảm giữa Việt Nam và Pháp cùng với những hệ lụy của nó kéo dài cho đến ngày nay, và đă viết một bài tham luận gửi tới ban tổ chức với tựa đề

"Lights of Paris, Tears of Saigon" (Ánh sáng Paris, Nước mắt Sài-g̣n) để được in vào tập tài liệu của cuộc hội thảo cùng với 29 bài viết khác tuyển chọn từ những bài viết của các nhà văn trên khắp thế giới.

 

Đây là cơ hội nói lên sự thật về Việt Nam trước một cử tọa quốc tế gồm nhiều nhà văn và trí thức Âu Châu mà trong đó có nhiều thành kiến, nhiều ngộ nhận được tạo ra bởi những huyền thoại kéo dài trong mấy thập niên qua.

 

Sáng Thứ Sáu 28 tháng 3, tôi đă lên tiếng trước các đại biểu của 30 Trung tâm thành viên của VBQT, phần lớn là thuộc các nước Âu Châu. Trước tôi đă có vài người phát biểu. Nhà văn Edvard Kovac, kiêm giáo sư đại học, Văn Bút Slovenia, đă dẫn chứng lịch sử để nói về những tranh chấp diễn ra trong quá khứ tại Âu Châu đều bắt nguồn từ những mâu thuẫn về "quyền lịch sử" của các dân tộc khác nhau dựa trên những huyền thoại được tạo thành do ảnh hưởng của các học thuyết khác nhau về quốc gia, ngôn ngữ hay tôn giáo. Nhà văn Pháp Monique-Lise Cohen nói về tính đạo đức cố hữu của ḥa b́nh trong những bạo động của lịch sử. Bà cho rằng từ lúc khởi thủy của nhân loại, thế giới đă là một sân khấu của những cuộc chiến tranh và phi công lư, trong đó ước mơ ḥa b́nh đă hiện hữu và hướng dẫn lương tâm chúng ta. Nhà văn Bồ-đào-nha Teresa Salema đặt câu hỏi về sự cần thiết của những tranh chấp trong một nền ḥa b́nh bền vững, và làm cách nào để loại bỏ những tranh chấp và đạt tới ḥa b́nh với một thế giới trong đó con người lâm chiến với nhau trong đủ loại đao binh. Nhà văn Na-uy Kjell Olaf Jensen cho rằng "lịch sử đă luôn luôn là một nguồn gốc của chiến tranh" hơn là nguồn gốc của ḥa b́nh, và con người đă học được những ǵ trong lịch sử mà cứ măi tái diễn những lỗi lầm trong quá khứ? Nhà văn Mỹ "lưu vong" Elizabeth Csiscery Rónay cũng cho rằng lịch sử là nguồn gốc của hết cuộc chiến tranh này đến cuộc chiến tranh khác, là nguồn gốc của tàn bạo, diệt chủng, chém giết, sát nhân. Bà nhà văn này trông rất trẻ, nh́n bề ngoài mà đoán th́ chỉ ngoài 40 tuổi nhưng lại khoe kinh nghiệm của chính ḿnh trong "phong trào phản chiến" chống chiến tranh Việt Nam tại Mỹ khoảng 40 năm trước.

 

Tác giả thuật rơ về cuộc xuống đường tại thủ đô Washington ngày 3.5.1971, đă cùng một đồng chí là Scott Smith lập kế hoạch để làm gián đoạn lưu thông và gây t́nh trạng hỗn loạn, làm tê liệt các cơ quan chính phủ để "đưa chiến tranh Việt Nam tới chỗ kết thúc", bằng phương pháp bất bạo động. Đối lại, theo lời Rónay, chính quyền Nixon quyết định giữ cho Washington mở cửa bằng mọi giá, đă huy động 10,000 binh sĩ Liên bang đóng chốt khắp thành phố, cộng với 4,000 lính dù, 5,100 cảnh sát thành phố và 2,000 Vệ binh Quốc gia. Đoàn biểu t́nh, khoảng 10,000 người tuy bất bạo động nhưng đă bị đàn áp và khoảng 2,000 người đă bị bắt, trong đó có Elizabeth Csiscery Rónay và Scott Smith.

 

Rónay kết luận rằng tuy cuộc biểu t́nh không đóng cửa được chính quyền, nhưng về một phương diện khác, nó "đă đóng thêm một cái đinh vào chiếc quan tài của cuộc chiến tranh tại Việt Nam". Rónay nói rằng kết cuộc, phong trào phản chiến phần lớn bất bạo động chống lại chiến tranh tại Việt Nam đă được gọi là phong trào quan trọng nhất thuộc loại này trong lịch sử nước Mỹ.

 

Rónay đă nói về kinh nghiệm của chính ḿnh trong phong trào phản chiến tại Mỹ như một cách để đề cao phương pháp đề kháng bất bạo động đă được Mahatma Gandhi khai sáng và sau đó được Matin Luther King áp dụng trong cuộc đấu tranh cho dân quyền của người da đen tại Mỹ. Tác giả nói rằng cho dù khi những phong trào này không thành công - như cuộc phản kháng bất bạo động tại Thiên-an môn năm 1989, như những cuộc biểu t́nh gần đây tại Miến Điện của các nhà sư và thường dân - những cuộc phản kháng ấy ít nhất đă phơi bày bản chất của sự đàn áp.

 

Dĩ nhiên Rónay không nói ǵ đến những sự đàn áp tại Việt Nam sau khi chiến tranh chấm dứt. Đó là một thái độ thiếu đạo đức trong lịch sử, đă không phục vụ ḥa b́nh, và đă đưa đến thảm kịch Việt Nam ngày nay, mà bài nói của tôi sau đó đă vạch ra. Tôi đă nói đến những huyền thoại về Việt Nam đă được Tây phương chấp nhận như là sự thật trong nhiều năm qua. Những huyền thoại được tạo thành do tuyên truyền cộng sản, do thành kiến của truyền thông và trí thức tả phái Tây Âu, do nước Pháp cố t́m lại vai tṛ đă mất tại cựu thuộc địa Đông Dương.

 

Hồ Chí Minh, tên thật là Nguyễn Tất Thành, không phải là một nhà cách mạng quốc gia. Ông ta là một cán bộ cộng sản chuyên nghiệp được đào tạo tại Mạc-tư-khoa, và là đảng viên sáng lập của Đảng Cộng sản Pháp. Chiến tranh Việt Nam không phải là một cuộc chiến tranh của người Mỹ. Mỹ đă chỉ can thiệp vào Việt Nam sau khi Cộng sản Bắc Việt mở mặt trận xâm lấn Việt Nam Cộng Ḥa, một quốc gia có chủ quyền. Việt Nam ngày nay vẫn bị cai trị bởi một chế độ cộng sản chuyên chính, vẫn đàn áp, và vẫn độc quyền tư tưởng, độc quyền chính trị.

 

Đó là sự thật lịch sử, và đă bị viết lại bởi những sử gia thiếu đạo đức, bởi những trí thức thiếu lương tâm. Đó là lư do các sử gia Tây phương đă im lặng trước tội ác của cộng sản. Gần hai mươi năm đă trôi qua từ ngày khối Cộng sản Đông Âu và Liên Sô sụp đổ, có rất ít sử sách ghi chép lại trung thực tội ác của các chế độ cộng sản, dù các văn khố khóa kín tại Mạc-tư-khoa và các nước Đông Âu đă được mở ra cho các học giả với những hồ sơ, tài liệu ghi rơ những hành động tàn ác của các chế độ cộng sản. Theo những ước tính sơ khởi, hơn một trăm triệu người vô tội đă chết v́ bị hạ sát hay là nạn nhân của những chính sách tàn bạo do các chế độ cộng sản trên thế giới thi hành trong thế kỷ 20, bỏ xa con số sáu triệu người Do Thái chết trong các trại tập trung của Quốc Xă Đức trong Thế Chiến II. Và tội ác của Hitler đă được nhắc tới mỗi ngày tại các trường học như những bài học lịch sử và luân lư tuyệt đối, trong khi tội ác của cộng sản đă bị bỏ quên bằng một thái độ mà Alan C. Cors, một giáo sư dạy môn lịch sử trí thức Âu Châu tại Tường Đại học Pennsylvania, gọi là "tiêu chuẩn kép" quái lạ, không thể tha thứ được (

monstrous, unforgivable double standard).

 

Phải chăng đó là căn bệnh nội tâm của trí thức Tây Âu? Được hưởng dư thừa tự do tư tưởng và tự do chính trị tại các nước phương Tây, nhiều trí thức đă t́m cách biện minh cho tội ác của cộng sản nhân danh "công bằng xă hội", v́ muốn tỏ ra là trí thức tiến bộ và sợ hăi phải nói sự thật v́ e ngại bị dán nhăn hiệu "công cụ của tư bản bóc lột". Họ đă vô t́nh trở thành "công cụ của vô sản chuyên chính" với những tội ác mà G.S. Cors nói rằng:

 

"Trong lịch sử loài người, chưa từng có cớ lư do đe sản xuất nhiều bạo chu'a ma'u lạnh, nhiều người vô tội bị tàn sát và nhiều trẻ mồ côi hơn là chủ nghĩa xa hội khi nắm quyền. No' vượt qua với cấp số nhân tất cả các hệ thống khác trong việc sản xuất xác chết."(No cause, ever, in the history of mankind, has produced more cold-blooded tyrants, more slaughtered innocents and more orphans than socialism with power. It surpassed, exponentially, all other systems of production in turning out the dead.)

 

Chủ nghĩa cộng sản, cũng như nhiều chủ nghĩa khác, đă phát xuất từ Âu Châu và nạn nhân đông đảo nhất của nó lại là người Á Châu. Và ngày nay, khi chủ nghĩa ấy đă chết tại Âu Châu th́ hơn một tỉ người Á Châu vẫn c̣n rên xiết v́ chủ nghĩa ấy, trong đó có 80 triệu dân Việt Nam. Những cuộc bầu cử trong các năm gần đây tại Pháp, Đảng Cộng sản chỉ chiếm được không quá 2 phần trăm số phiếu, trong khi ở bên kia nửa quả địa cầu, dân Việt Nam bị lùa tới các pḥng phiếu để bầu cho các đảng viên cộng sản luôn luôn đắc cử với trên 90 phần trăm phiếu bầu. Ai lên tiếng đ̣i hỏi dân chủ liền bị đàn áp, nhẹ th́ bị quấy nhiễu, làm nhục, cô lập, gây khó khăn cho cuộc sống, nặng th́ bị khép tội gián điệp, phản động, phản quốc, âm mưu lật đổ với những bản án hàng chục năm tù. Trong số những người can đảm này có nhiều người cầm bút. Nhà văn, nhà thơ, nhà báo.

 

Tên tuổi những người này không xa lạ với các tổ chức nhân quyền tại Âu châu, như Văn Bút Quốc Tế (International PEN), Hội Ân Xá Quốc Tế (Amnesty International), Hội Phóng viên Không Biên giới (Reporters sans frontières), vv.

 

Họ là những nạn nhân gián tiếp của suy tư Âu Châu, triết thuyết Âu Châu, và của sự thiếu đạo đức nơi các sử gia Âu Châu, nhưng tại cuộc hội thảo về "Đạo tắc trong Lịch sử" ở Bled, vấn đề Việt Nam đă không được các diễn giả Âu Châu nhắc đến.

 

Sự góp mặt và góp tiếng của Việt Nam tại diễn đàn này là đúng nơi và đúng lúc. Mọi người có vẻ hơi ngạc nhiên v́ h́nh như đây là lần đầu tiên người Việt Nam lên tiếng tại diễn đàn này, và lại lên tiếng với một bài tham luận thách thức lương tri và sự can đảm của trí thức Âu Châu. Họ chăm chú lắng nghe, vài người lấy sổ tay ghi chép. Tới phần thảo luận, không ai có ư kiến ǵ về bài tham luận "Ánh sáng Paris, Nước mắt Sài-g̣n", nhưng khi cuộc họp chấm dứt, Nhà văn Edvard Kovac, Chủ tịch Ủy-ban Nhà Văn v́ Ḥa B́nh, cũng là một giáo sư đại học và là người điều hợp cuộc thảo luận, đă nói riêng với tôi rằng ông cảm ơn và rất đồng ư với bài nói của tôi. Ông nhấn mạnh: "Murder is murder."
 
http://shutter15.pictures.aol.com/data/pictures/25/004/5D/7E/5A/A7/IuYJzfQImL6Gy-ZCF1WawZG9z5NjnUfu0300.jpg
 

Tác giả đứng giữa Nhà văn Edvard Kovac, Chủ tịch Ủy-ban Nhà văn v́ Ḥa B́nh, và Tone Persak (mang kính mát), Chủ tịch Văn Bút Slovenia kiêm Thị trửơng Trzin 

 

 

Ngày hôm sau, nhật báo "DELO" ở Slovenia đă viết về nội dung những phát biểu của tôi trong bài tường thuật về cuộc hội thảo với những nhận định về tương quan giữa văn hóa và ḥa b́nh.

 

Song song với những cuộc thảo luận chính thức, những sinh hoạt bên lề như các buổi nói chuyện về văn học, hội thơ, tiếp xúc cá nhân cũng đă tạo nhiều cơ hội để các nhà văn, trí thức các nước hiểu biết thêm về Việt Nam. Đặc biệt, trong một buổi hội thơ, anh Nguyễn Đăng Tuấn, người bạn đồng hành, đă làm mọi người xúc động với bài thơ "Em bé Việt Nam làm điếm" bằng tiếng Anh và được yêu cầu ngâm thơ tiếng Việt mà hầu hết những người có mặt đều lần đầu tiên được nghe điệu ngâm Việt Nam đầy âm sắc và nhạc tính, khác hẳn lối đọc thơ phương Tây. Sau đó, Nguyễn Đăng Tuấn đă được đài truyền h́nh ở Slovenia phỏng vấn để giới thiệu với khán giả địa phương về văn học và văn hóa Việt Nam.

 

Sau bốn ngày ở Bled, chúng tôi đă để lại cái ǵ và mang về những ǵ?

 

Để lại ít và mang về nhiều. Để lại tiếng nói lẻ loi của lương tâm Việt Nam, mang về mối ưu tư và những câu hỏi lớn. Những người làm văn học ở hải ngoại đang viết ǵ và đóng góp ǵ vào trào lưu dân chủ đang lớn dần tại Việt Nam để rút ngắn đoạn đường và giảm bớt hy sinh, tổn thất của những đồng nghiệp bất khuất đang đứng lên ở trong nước? Chúng ta có đang sử dụng tự do để nói lên những điều mà người trong nước không thể nói? Tại sao chúng ta quá quan tâm t́m kiếm tên tuổi trong cộng đồng mà không hướng mắt nh́n xa, trông rộng để góp mặt và góp tiếng trên diễn đàn quốc tế?
 


http://shutter13.pictures.aol.com/data/pictures/24/002/3A/ED/49/BF/UDNmG86wpPId4PPE4jmz7Z+LbNurpOWJ0300.jpg
Hồ Bled 


Tôi cũng mang theo về một chút nỗi niềm riêng. Bled rất giống Đa Lạt. Cũng ở trên một miền đất núi đồi bao quanh, không có mặt bằng để làm sân bay, phải dùng phi trường ở Ljubljana, cách đó hơn nửa giờ lái xe, giống như phi trường Liên Khương để tới Đà Lạt. Bled cũng có cái hồ rất nên thơ, giống Hồ Xuân Hương ở Đà Lạt. Bled cũng mát dịu và chợt mưa chợt nắng như trời Đà Lạt. Nhưng, Bled có cái rất khác Đà Lạt, vùng đất đẹp miền cao, nơi đă ghi dấu nhiều kỷ niệm của đời tôi, và làm tim tôi nhói đau khi từ Bled nhớ về Đà Lạt.
 


Bled có tự do.


Sơn Tùng